//
JA Teline III - шаблон joomla Книги

Sunday, Dec 17th

Last updateSun, 17 Dec 2017 2am

You are here: Home GÓC VĂN NGHỆ ĐỜI NGƯỜI LÍNH Hành trình xuyên Việt

Hành trình xuyên Việt

Để thực hiện ý định tổ chức chuyến đi xuyên Việt cho đoàn cán bộ đại diện cựu chiến binh Sư đoàn 9, ngày 12.11.2005 Ban liên lạc truyền thống Sư đoàn 9 tại thành phố Hồ Chí Minh triệu tập phiên họp gồm những đồng chí tham gia cuộc hành trình để thống nhất một số chi tiết cần thiết của chuyến đi.

 

Mục đích chủ yếu của chuyến đi là viếng Lăng Hồ Chủ Tịch, thăm đại tướng Võ Nguyên Giáp, dự họp mặt đại diện cựu chiến binh Sư đoàn 9 khu vực Hà Nội, thăm xã giao các vị tướng lãnh Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Tình báo, các tướng lãnh có một thời gắn bó với Sư đoàn, đang nghỉ hưu ở Hà Nội.

Dự kiến cả đi và về tối đa 15 ngày. Lượt đi, theo quốc lộ 14A đi qua Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh rồi ra quốc lộ 1 A đến và lưu lại Hà Nội trong 03 ngày.  Lượt về, theo quốc lộ 1A xuôi thẳng về Nam.

Mọi chi phí do anh em tự đóng góp, đồng chí Nguyễn Cứ giữ, chi tiêu và báo cáo công khai khi kết thúc chuyến đi. Thiếu anh em đóng góp thêm, thừa hoàn trả lại. Trưởng Ban liên lạc vận động tiền và hợp đồng thuê xe. Để đạt được mục đích chuyến đi, anh em thống nhất đề cử:
    * Trưởng đoàn - Đại táTrương Văn Đàng. (Năm Đàng)
    * Phó đoàn - Đại táTrần Nam Hùng. (Năm Hùng)
    * Quan hệ giao dịch - Đại táTrần Mạnh Lương. (Ba Lương)
    * Lo sức khỏe cho đoàn - Bác sĩTrần Kim Gia. (Bảy Gia)
    * Lo hậu cần và ghi nhật ký hành trình - Nhà thơNguyễn Cứ.(Chín Cứ)

Ngày 15.11.2005:
Sáng nay đoàn cựu chiến binh thực hiện chuyến xuyên Việt có mặt tại nhà anh Năm Đàng. Từng người thắp hương bàn thờ Hồ Chủ Tịch - cũng là nơi Ban Liên lạc truyền thống Sư đoàn 9 phụng thờ cán bộ chiến sĩ của Sư đoàn hy sinh trong chiến tranh. Đúng 07 giờ xe đến đón anh Ba Lương ở bên này cầu An Lộc. Xe cắt ngang xa lộ vành đai tại ngã tư Ga về Lái Thiêu đón người cuối cùng - anh Hai Chiến. Sau đó ra quốc lộ 13, rẽ trái đi thẳng về hướng thị trấn Chơn Thành.

Xe lăn bánh trên quốc lộ vốn nổi tiếng với nhiều địa danh trở thành tên chiến công hiển hách của Sư đoàn thời kỳ đánh Mỹ như: Cần Đâm, Căm Xe, Sa Cát, Bàu Bàng, An Lộc, Lộc Ninh... Quốc lộ 13 này ngày xưa binh lính Sư đoàn 5 ngụy gọi là “Con đường máu và nước mắt” đã có hàng ngàn cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 9 anh dũng ngã xuống trong những trận chiến đấu ác liệt.

Qua Bàu Bàng, nơi diễn ra trận kịch chiến nảy lửa sáng ngày 12.11.1965. Lần đầu tiên ta chạm trán với Sư đoàn bộ binh số 1 “Anh cả đỏ” của Mỹ, một Sư đoàn khét tiếng, từng tham gia hai cuộc chiến tranh thế giới. Tướng tá Mỹ thường huênh hoang “Trong lịch sử của Sư đoàn không có từ chiến bại”. Nhưng đã phải nếm mùi thảm bại tại Việt Nam, bị Sư đoàn 9 loại khỏi vòng chiến đấu trên hai ngàn tên. Bên ta có gần 300 đồng chí bị thương và 109 đồng chí anh dũng hy sinh, yên nghỉ tại Lai Uyên. Sau này đã được chính quyền quy tập vào nghĩa trang liệt sĩ huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương.   

Đến ngã tư trung tâm thị trấn Chơn Thành xe rẽ phải về quốc lộ 14A để lên đường Trường Sơn - đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại. Chơn Thành cũng là tên một chiến công của Sư đoàn 9. Ngày 31.3.1975, tấn công tiêu diệt chi khu quân sự này nhằm mở rộng hành lang cho quân ta triển khai các mũi tiến công vào Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.  

Tiếp đến xe qua thị xã Đồng Xoài, tỉnh lỵ của Bình Phước hiện nay, một địa danh nữa ghi đậm chiến công của Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2, hai đơn vị tiền thân của Sư đoàn 9. Trong chiến dịch Phước Long - Đồng Xoài bắt đầu từ ngày 10.6.1965 quân ta tấn công tiêu diệt chi khu quân sự Đồng Xoài và sau đó tiêu diệt gọn nhiều đơn vị tổng trù bị của quân ngụy đến viện binh. Chiến công này đã góp phần cùng cả nước làm sụp đổ chiến lược "Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ngụy. Ghi một điểm son chói lọi vào trang sử của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ đấy Nhà nước lấy tên “Đoàn Đồng Xoài” đặt cho Trung đoàn 2, đơn vị tiêu diệt cứ điểm quân sự này.   

Trở lại chiến trường xưa, mọi người đều bùi ngùi nhớ hình ảnh ngày nào từng đưa xác đồng đội xuống lòng đất mẹ. Sau này khi có điều kiện quy tập, nhiều hài cốt - kể cả khuyết danh đã được đưa vào nghĩa trang liệt sĩ hoặc về với gia đình. Nhưng không ít người vẫn còn nằm đâu đó bên những cánh rừng lạnh lẽo. Dù chúng ta cố gắng tìm kiếm nhưng chưa có kết quả mà đa phần là do địa hình thay đổi quá nhiều, dấu vết ghi nhớ khi xưa giờ không còn nữa.  

Chiến tranh đã lùi vào quá khứ. Ký ức một thời bom đạn khốc liệt rồi cũng sẽ chìm dần vào cõi sâu thăm thẳm của thời gian. Nhưng những người lính ngã xuống cho Tổ quốc trường tồn vẫn còn đó như những tượng đài chiến thắng đứng sừng sững trên khắp các chiến trường miền Đông Nam Bộ.  

Để giảm bớt mệt mỏi đường xa, mọi người thi nhau kể chuyện tiếu lâm trong thời kỳ kháng chiến, trong cuộc sống đời thường. Nhiều mẩu chuyện do người kể tự phịa ra nhưng cũng không kém phần trào phúng thật hóm hỉnh. Nhờ vậy không khí trên xe luôn vui nhộn, có lúc cười ra nước mắt. 

Xe lướt nhanh qua những lô cao su xanh rờn nối tiếp nhau hầu như bất tận trên địa phận tỉnh Bình Phước, là tỉnh cuối cùng của miền Đông Nam Bộ. Xin chào miền Đông gian lao mà anh dũng để đi vào cao nguyên Trung Bộ, dãy đất chạy dọc phía tây của “Khu Năm dằng dặc khúc ruột miền Trung”. Nơi đây đã sinh ra nhiều anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có anh hùng Núp, cây đại thụ của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. 

Vẫn những lô cao su xanh ngút ngàn trên vùng đất đỏ ba dan màu mỡ nhưng đặc trưng của vùng cao là khí hậu bắt đầu se lạnh. Tỉnh đầu tiên đoàn đi qua là Đắc Nông non trẻ vừa được tách ra một phần của tỉnh Đắc Lắc cũ. Xe dừng lại ăn trưa tại thị trấn Đắc Min do anh Năm Đàng khoản đãi anh em, có cả bia lon và thịt rừng. Bữa ăn đầu tiên trên vùng cao nguyên ngập nắng, mang hơi hướm là lạ của miền sơn cước xa xôi.

Rời tỉnh Đắc Nông đến Đắc Lắc, xứ sở cà phê thơm ngon nổi tiếng tại Việt Nam từ lâu. Những năm gần đây trên thị trường xuất hiện thương hiệu cà phê Trung Nguyên, chinh phục được cả những người sành điệu khó tính ở trong nước và đã thành công bước đầu khi vừa vươn ra thị trường ngoài nước. 

Đến xế chiều, xe bon bon trên đại lộ khang trang thành phố Buôn Mê Thuột, trung tâm hành chánh tỉnh Đắc Lắc. Dưới chân tượng đài chiến thắng nằm giữa thành phố có trưng bày chiếc xe tăng của quân ta tiến vào thị xã Buôn Mê Thuột ngày 10.3.1975 xóa phiên hiệu sư đoàn 23 bộ binh ngụy Sài Gòn, mở màn mặt trận Tây Nguyên. Để từ đó ngày 31.3.1975 Bộ Chính trị  quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh đi đến ngày toàn thắng 30.4.1975 lịch sử.

Qua tỉnh Gia Lai, một trong những vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời. Hiện nay là địa phương phát triển khá mạnh của Tây Nguyên. Đoàn chứng kiến nhiều hình ảnh ấn tượng về sự phát triển kinh tế - xã hội của Gia Lai. Thành phố PLây Cu, trung tâm hành chánh tỉnh trông sầm uất, kiến trúc theo lối hiện đại, đường phố rộng thênh thang sạch đẹp. Đời sống văn hóa chẳng kém mấy so với đồng bằng vì ở đây có đông người Kinh định cư, tổ chức sản xuất kinh doanh, hoạt động dịch vụ. Trong đó nổi lên trên hết là công ty Hoàng Anh Gia Lai cơ ngơi trông bề thế, một doanh nghiệp có hẳn đội bóng đá hạng A1 khá mạnh.

 Tiếp đến là tỉnh Kon Tum được tách ra từ tỉnh Gia Lai Kon Tum cũ, nằm tiếp giáp hành lang dãy Trường Sơn. Phía xa xa là cánh rừng nguyên sinh lẫn khuất trong màn sương chiều bảng lảng. Dọc hai bên đường nhà cửa dân cư thưa thớt, thảo nguyên bao la, cỏ cây khô khốc úa vàng, rải rác vài sở cao su non chưa khai thác... Tất cả hình ảnh đó nói lên nền kinh tế của Kon Tum phát triển chưa cao. Đời sống đồng bào, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ắt vẫn còn nghèo hơn các địa phương khác.

Xe vào thị xã Kon Tum khi phố sá đã lên đèn từ lâu. Cả đoàn mệt lử sau ngày dài đầu tiên của hành trình. Mặc dù suốt ngày trên xe luôn vui nhộn với những mẩu chuyện hài hước; xóa bớt đi ít nhiều mệt mỏi chặng đường xa. Nhờ anh Ba Lương liên lạc trước với Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Kon Tum nên Thiếu tướng A Sang - người dân tộc Giẻ -Triêng, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Kon Tum đứng đón đoàn hàng giờ bên vệ đường trong tiết trời lạnh giá của rừng núi đại ngàn để hướng dẫn đoàn về nhà khách Tỉnh đội nghỉ qua đêm. Xếp phòng xong, người sĩ quan phụ trách nhà nghỉ mời đoàn đến dùng bữa tối với Thiếu tướng A Sang tại một nhà hàng bình dân. Nhưng thật ra bữa ăn được xem là quá thịnh soạn đối với một tỉnh Tây Nguyên còn nghèo khó này.

Ngày 16.11.2005:
Qua một đêm ngon giấc sau ngày dài đầu tiên của hành trình, đoàn tiếp tục theo quốc lộ 14A thẳng hướng đường Trường Sơn. Hơn một giờ xe chạy, đoàn dừng lại chụp ảnh kỷ niệm tại tượng đài chiến thắng Đắc Tô -Tân Cảnh, ghi dấu trận chiến thắng oanh liệt của quân và dân ta trong ngày 12.4.1972.  Ở hai bên phía sau trưng bày hai chiếc xe tăng như một điểm nhấn cho tượng đài chiến thắng đứng oai nghiêm.

Xe rẽ vào đường Trường Sơn tại ngã tư trung tâm thị trấn Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum lúc gần 10 giờ trưa. Đây là thời khắc cả đoàn đang nôn nao trông đợi mong được nhìn lại con đường xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước năm xưa. Cũng là dịp để anh em được tận mắt nhìn thấy một công trình tầm cỡ mang ý nghĩa chiến lược. Sự đầu tư to lớn của Nhà nước không chỉ cho quốc phòng mà còn tạo ra lực đòn bẩy phát triển kinh tế vùng rừng núi phía tây Tổ quốc. Công trình tầm cỡ đó là đường Hồ Chí Minh.

         Ta đã đến Trường Sơn huyền thoại
         Rừng mênh mông, đồi núi chập chùng
         Thiên nhiên thật kỳ công nhẫn nại
         Vẫn miệt mài dệt thảm tặng miền Trung

Trường Sơn, cái tên nghe thân thương và cũng rất đỗi tự hào đối với bất cứ người lính Cụ Hồ nào còn sống sót qua chiến tranh. Núi rừng thật hùng vĩ đẹp như tranh vẽ này đây đã từng một thời che kín những đoàn quân từ hậu phương lớn tiếp bước nhau tiến ra mặt trận. Bởi thế nên khi đoàn nghe tài xế thông báo bắt đầu vào đường Trường Sơn thì ai cũng cảm thấy bồi hồi, trông ra hai bên như để được thưởng ngoạn cảnh trí thiên nhiên của núi rừng. Nhiều anh cứ tấm tắc khen mãi vẻ đẹp của giang sơn gấm vóc Việt Nam liền một dãy. Ngàn đời nay dân tộc ta đổ biết bao mồ hôi khai sơn trị thủy, đổ biết bao xương máu để chiến đấu bảo vệ toàn vẹn biên cương lãnh thổ của cha ông để lại.     

Đường lên Trường Sơn khúc khuỷu quanh co uốn lượn rất ngoạn mục, hầu như ít có đoạn nào thẳng đến vài trăm mét. Ở độ cao hàng ngàn mét so với mặt biển, đỉnh núi luôn bị mây xám bao phủ, bầu trời âm u lắc rắc mưa rừng làm cho khí hậu càng lạnh. Nhìn chiếc cầu bắc qua vực thẳm cheo leo, điểm xuyết một dòng thác nhỏ trải màn nước trắng xóa trên lưng chừng núi. Bổng chốc ta thấy Trường Sơn hóa thành bức tranh hoàn hảo mà thiên nhiên đã dày công tác tạo, đem ban tặng cho các thế hệ con cháu Rồng Tiên.

Đi trong Trường Sơn ta cảm thấy mình quá nhỏ bé; bị lọt thỏm giữa một vùng núi non trùng trùng điệp điệp, rừng già tịch mịch, vực thẳm đèo cao. Ấn tượng mạnh nhất là qua những chỗ ngoặc gấp khúc bên mép vực thẳm của đèo Lò So hiểm trở vừa sạt lở. Cả đoàn bùi ngùi khi biết mới đây có một xe đưa cựu chiến binh phường Kim Liên - Hà Nội trở về thăm lại chiến trường xưa đã gặp tai nạn thảm khốc tại đèo Lò So này. Hiểu được rủi ro đang chực chờ nếu không làm chủ tốc độ nên bác tài lái xe rất cẩn thận và chứng tỏ là đã từng nhiều lần lái xe qua đường Trường Sơn.

        Cao ngất chân mây uốn lượn đèo
        Đường lên vách đá đứng cheo leo
        Ngàn thông xa khuất chen mây xám
        Gió núi hòa cùng tiếng thác reo

Có đi qua đây mới hiểu hết được sức mạnh vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng trong hai cuộc kháng chiến vừa qua. Trên con đường này hơn ba mươi năm trở về trước hằng triệu đứa con của Tổ quốc tay cầm chiếc gậy, vai oằn nặng ba lô-súng đạn-lương thực lội suối băng rừng, trèo đèo leo dốc bền bĩ hành quân ròng rã nhiều tháng liền, vượt hàng ngàn cây số vào Nam ra Bắc, đến bất cứ nơi đâu khi Tổ quốc cần. Có người gởi xác trên Trường Sơn do bom đạn của quân thù hoặc do bệnh sốt rét rừng ác tính. Cũng trên con đường đầy gian khổ và bom đạn ác liệt này hằng ngàn thương binh nặng được chuyển đi bằng đôi vai người ra hậu phương lớn để điều trị và an dưỡng.   

Những bại tướng Hoa Kỳ nên ít nhất có một lần đến đây chiêm nghiệm, ắt sẽ ngộ ra rằng Mỹ xua quân đi gieo tai họa một đất nước cách xa mình nửa vòng trái đất, chạm phải một dân tộc kiên cường chống ngoại xâm như thế này thì Mỹ thua là lẽ đương nhiên. Để thôi, đừng cay cú, mặc cảm nhục nhã của kẻ bại trận và nước Mỹ cũng sẽ hết tự dày vò bởi hội chứng Việt Nam. 

Đến thị trấn Thạnh Mỹ, địa phận tỉnh Quảng Nam đoàn dừng lại ăn trưa. Bữa ăn cuối cùng trên Trường Sơn, sau đó xe rẽ phải xuống quốc lộ 1A nằm dọc theo bờ biển phía đông. Càng xa Trường Sơn nhiệt độ khí hậu càng tăng; mặt đường cũng hạ dần độ cao nghiêng về đồng bằng duyên hải miền Trung. Qua vùng bình nguyên bán sơn địa của tỉnh Quảng Nam với những làng quê hẻo lánh phía sau cánh đồng nhỏ.

Đến xế chiều xe qua ngang ngoại vi thành phố Đà Nẵng, chạy thẳng ra ngã ba Huế để đi vào đường hầm Hải Vân nằm dưới đèo nổi tiếng “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” do vua Lê Thánh Tông đặt cho. Từ xa đã thấy rõ mồn một hai cửa miệng đường hầm hình bán nguyệt nằm cạnh nhau trước mặt phẳng nghiêng của vách bê tông.

Khi xe vừa qua một đoạn ngắn có độ cong nhỏ ở cửa hầm là ta nhìn thấy đường hầm thẳng, rộng, sâu hun hút. Hai dãy đèn vàng chạy dọc trên nóc hầm phát ra ánh sáng mờ đục vừa đủ kích thích tính tò mò, vừa lôi cuốn sự thích thú của bất cứ ai lần đầu tiên đi qua đường hầm. Phía bên trong lan can sát chân vách bên trái có một hành lang dành cho người đi bộ. Chính giữa là một dãy phân cách chia đôi phần đường. Đi một đoạn ngắn lại thấy trên nóc hầm có lỗ thông hơi và hai quạt hút gió song đôi tạo sự đối lưu không khí. Thỉnh thoảng có lối thoát hiểm thông qua đường hầm phụ nằm ở thành vách bên phải, nhưng cửa luôn đóng kín.   

Một cảm giác kỳ lạ cho những ai lần đầu đi qua đường hầm Hải Vân. Đó là khi được chứng kiến sự kỳ vĩ của công trình với niềm tự hào thán phục. Chứng minh trình độ khoa học kỹ thuật của đội ngũ kỹ sư, công nhân nước ta đã tiến lên một bước khá dài trên con đường xây dựng, kiến thiết đất nước.

Trải qua hơn 6 phút ngồi trên xe đi trong không gian mờ ảo của đường hầm, chợt ánh sáng chan hòa của ban ngày ập đến cho ta biết đã đến cửa phía bắc, thoát khỏi đường hầm Hải Vân đi vào Lăng Cô thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Vùng đất này ngày xưa là châu Ô, châu Lý của vương quốc Chiêm Thành; vua Chế Mân cắt dâng cho nước Đại Việt gọi là làm vật sính lễ để xin cưới công chúa Huyền Trân, đưa về làm hoàng hậu của Chiêm Thành.  

Trên đường về cố đô Huế trời mưa dầm gió rét làm ai cũng tiếc nuối vì phải chia tay với khí hậu ấm áp phía nam đèo Hải Vân. Trời mưa không ngớt, khiến nhiều anh em muốn tối nay xuống đò sông Hương thưởng thức làn điệu nam ai - nam bằng nổi tiếng của dân ca Huế coi như tan thành mây khói. Ăn tối xong, đoàn đến nghỉ tại khách sạn Hoàn Thiện 2. Vừa ngả lưng mọi người đã chìm vào giấc ngủ say trong tiếng mưa thì thầm trên phố Huế.

          Huế trầm mặc thu mình trong giá lạnh
          Mưa về trên phố vắng sắc se buồn
          Thành quách bỗng nhạt nhòa như ảo ảnh
          Khách thả hồn hoài cổ xuống sông Hương

Ngày 17.11.2005:
Vừa sáng đã vội đi mua nhang để viếng nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Xe theo quốc lộ 1A đến thị xã Đông Hà tỉnh Quảng Trị thì rẽ trái ngược trở lên đường Hồ Chí Minh. Sau gần hai giờ xe chạy mới đến được nghĩa trang. Trời mưa lất phất nên bác tài cho xe chạy thẳng vào tượng đài tại trung tâm.

Từng người đốt hương dâng lên tượng đài, cầu nguyện cho vong linh liệt sĩ Trường Sơn về đây chứng giám tấc lòng thành của những người lính đại diện cựu chiến binh Sư đoàn 9 anh hùng thắp nén hương nghiêng mình tưởng niệm. Xin các đồng chí hãy cứ yên nghỉ nơi núi rừng hùng vĩ xa xôi này. Chúng tôi, những người lính Cụ Hồ may mắn sống sót qua chiến tranh không thể quên đồng đội đã anh dũng ngã xuống trong cuộc chiến đấu sinh tử vừa qua.   

Vào địa phận tỉnh Quảng Bình, quê hương đại tướng Võ Nguyên Giáp thì xe rẽ phải, tạm biệt đường Hồ Chí Minh trở xuống quốc lộ 1A. Đến thành phố Đồng Hới xe quẹo trái chạy ngược lên phía bắc. Qua chiếc cầu mới xây bắc qua sông Gianh mang dáng dấp hiện đại thay cho sử dụng phà trước đây. Con sông trông hiền hòa này lại là giới tuyến của cuộc chiến tranh phân chia Nam Bắc từ đầu thế kỷ 17.  

Gần hai thế kỷ Trịnh Nguyễn tương tranh thảm khốc, lũy Thầy đã chứng kiến một cuộc nội chiến phi nghĩa và ô nhục nhất trong lịch sử dân tộc Việt. Nghe đâu đây như còn vẳng lại tiếng ngựa hí gươm khua trên chiến trận của những người cùng chung nòi giống, đang tâm chém giết lẫn nhau. Biết bao người phơi thây ngoài chiến địa một cách oan uổng chỉ vì mộng bá đồ vương của 11 đời chúa Trịnh ở đàng ngoài và 10 đời chúa Nguyễn ở đàng trong. 

          Hận Trịnh, Nguyễn làm hoen trang sử Việt
          Dãy đất cha ông sao tự cắt hai đàng
          Nhục nội chiến muôn đời không rửa sạch
          Sông Gianh còn trôi nổi những hồn oan

Nhìn sông Gianh ta lại nhớ đến Nguyễn Kim, một đại công thần nhà Hậu Lê thuở trước. Lịch sử công bằng ghi chép đầy đủ công lao to lớn của ông; người đã dày công hãn mã khôi phục triều Lê, xem thường mọi hiểm nguy, xông pha giữa rừng gươm biển giáo, trọn đạo quân thần hết mình hộ giá nhà vua trong cơn loạn lạc.

Nhưng khi ông vừa nhắm mắt xuôi tay thì con trai và con rể của ông vì tranh giành quyền bính mà đoạn tình cốt nhục. Nhẫn tâm lôi kéo muôn dân vào vòng binh đao khói lửa trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt, trăm họ thống khổ điêu linh. May mà sau đó xuất hiện người anh hùng dân tộc kiệt xuất Quang Trung - Nguyễn Huệ ra tay cứu nguy cho sơn hà xã tắc, thu giang sơn về một mối.

Nhưng rồi hậu duệ của ông lại lật đổ nhà Tây Sơn leo lên ngôi báu, nhẫn tâm tàn sát dã man hoàng gia, các đại thần tiên triều. Để sau đó nhu nhược đem giang sơn gấm vóc Đại Việt dâng cho giặc Pháp đô hộ hàng thế kỷ tiếp theo. Chốn suối vàng ông nghĩ gì về hậu quả của con cháu ông đã làm qua trên 30 đời vua chúa và khi gặp lại họ ở bên kia thế giới ông phán xử chúng ra sao.   

Từ giã sông Gianh, chứng tích bi thương của dân tộc một thuở can qua. Đến đèo Ngang, ranh giới tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh, được người đời biết đến qua tác phẩm thơ Đường trứ danh của Bà Huyện Thanh Quan. Vài người muốn leo đèo để được mục kích hình ảnh “…Cỏ cây chen đá, lá chen hoa…” Nhưng theo ý kiến của nhiều anh em, trưởng đoàn quyết định chui qua đường hầm ngắn ngủi; không có lổ thông gió, quạt hút, đường hầm phụ. Từ cửa hầm phía nam đã nhìn thấy cửa hầm phía bắc. Nghe nói đường hầm này thông xe trước khi khởi công xây dựng đường hầm Hải Vân.

Hai bên quốc lộ địa phận Hà Tĩnh rải rác nhiều ngôi nhà nhỏ, tường gạch mái ngói. Nhưng vì luôn chịu bão tố nên không nhà nào có mái hiên, hàng ba như nhà ở miền Nam. Nhìn hình thù các ngôi nhà trụi lủi thế này ta cảm thấy giống như đồ chơi xếp hình nhỏ nhắn của trẻ em. Càng lên phía bắc khí hậu càng lạnh, trời càng âm u, thỉnh thoảng có mưa phùn. Những bụi mưa rất mịn, mang hơi lạnh dễ chịu mà ở phương nam ta chưa được tận hưởng.  

 Tỉnh Nghệ An cũng như Hà Tĩnh là quê hương của các nhà khoa bảng, là xứ sở của nhiều lãnh tụ cách mạng, chí sĩ yêu nước và học giả uyên bác. Trong đó nổi lên trên hết là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Bác Hồ của chúng ta. Cảnh quan Nghệ An chẳng khác mấy Hà Tĩnh, cũng những thửa ruộng nhỏ vùng đồng bằng bắc Trung Bộ nằm sát chân núi. Làm ta cảm giác như khối đá khổng lồ đó đột nhiên nhô lên trên bề mặt của cánh đồng bằng phẳng.

Xe vào địa phận Nghệ An là đoàn dừng lại nghỉ qua đêm tại khách sạn Trà Bồng thành phố Vinh. Thành phố này là trung tâm hành chánh tỉnh Nghệ An và cũng là nơi trú đóng của Bộ Tư lệnh Quân khu Bốn. Chín Cứ gọi điện thoại và được trung tướng Nguyễn Năng Nguyễn (Tư Nguyễn) - phó Tổng Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu hẹn đón đoàn tại Trạm 66 lúc 15 giờ ngày mai – 18.11.2005.

Ngày 18.11.2005:
Sáng nay đoàn tiếp tục hành trình đến Thanh Hóa, tỉnh có dân số đông nhất so với các tỉnh trong cả nước. Suốt chiều dài lịch sử, đất địa linh nhân kiệt này sinh ra nhiều anh hùng dân tộc, các vì vua anh minh. Là hậu phương lớn trong thời kháng Pháp, đóng góp nhiều cho chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm xưa và hôm nay đang thực sự vươn mình trong thời kỳ đổi mới. Nhìn phố sá nằm san sát ta nhận ra một bộ mặt Thanh Hóa nguy nga tráng lệ. Rặng dừa xanh bạt ngàn nằm sâu trong làng mạc dọc theo quốc lộ ngầm báo cho chúng ta sự thịnh vượng và tự tin vươn lên của vùng đất này.

Qua cầu Hoàng Long mới xây nằm song song cầu Hàm Rồng lịch sử thời kỳ ta đánh trả máy bay Mỹ bắn phá ác liệt miền Bắc. Lúc ấy trong mắt người Mỹ, cầu Hàm Rồng này là một cái gai cần phải nhổ bỏ. Nhưng kỳ diệu thay trước hàng ngàn phi vụ ném bom của không quân Mỹ, với đủ các loại phương tiện hiện đại nhất, trút hàng ngàn tấn bom đạn mà cầu Hàm Rồng của ta vẫn cứ đứng hiên ngang như muốn thách thức phái diều hâu hiếu chiến Hoa Kỳ. Tại đây quân và dân ta đã chiến đấu kiên cường, bắn rơi hàng trăm máy bay, bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. Xin ngàn lần cám ơn Thanh Hóa anh hùng còn giữ lại cầu Hàm Rồng để con cháu các thế hệ mai sau được tự hào về nó.

Dọc hai bên quốc lộ địa phận tỉnh Ninh Bình là những cánh đồng nhỏ có nhiều núi đá vôi đứng lêu nghêu chen chút nhau trên mặt cánh đồng phẳng phiu vững chãi đẹp như tranh vẽ. Nhìn cánh đồng này hồ như ta lại thấy thấp thoáng bóng cờ lau tập trận của Đinh Bộ Lĩnh thuở thiếu thời hơn một ngàn năm trước. Lớn lên, tại vùng đất phát tích này ông đã cất binh mã dẹp loạn thập nhị sứ quân, được tướng sĩ suy tôn Vạn Thắng Vương.

Năm 968 Ngài lập nước Đại Cồ Việt đống đô tại Hoa Lư, lên ngôi lấy vương hiệu Đinh Tiên Hoàng, khoác long bào tự xưng hoàng đế, thách thức “thiên triều” phương Bắc. Cũng tại đây năm 980, trước họa ngoại xâm ngàn cân treo đầu sợi tóc; quan thập đạo Lê Hoàn nhận long cổn bước lên ngôi báu, thống lãnh ba quân đánh đại bại quân Tống kéo sang xâm lược nước ta. Bảo vệ toàn vẹn nền độc lập non trẻ vừa giành được sau hằng ngàn năm Bắc thuộc. Cột mốc lịch sử ấy là năm 938 Ngô Quyền sai quân sĩ cắm cọc trên sông Bạch Đằng, đánh cho đội chiến thuyền của quân Nam Hán tan tác, chém đầu tướng giặc Lưu Hoằng Tháo. Kể từ đấy lịch sử nước ta lật sang một trang mới: Thời kỳ độc lập.

Rời Ninh Bình, xe lần lượt đi qua địa phận các tỉnh Hà Nam, Nam Định vào huyện Thanh Trì thủ đô Hà Nội trên đường cao tốc rộng thênh thang. Đúng 15 giờ xe dừng lại nơi hẹn là Trạm 66 - nhà khách của Bộ Quốc phòng. Sau 10 phút từ khi nhận được điện thoại, trung tướng Nguyễn đã có mặt, giao cho thiếu tá Thạch đưa đoàn về nghỉ ở Trạm 66B nằm trên đường Thụy Khuê; vì ở đó ra vào cổng dễ dàng, thoải mái hơn ở đây.

Chưa nhận phòng xong, Tư Nguyễn gọi điện thoại cho Chín Cứ để báo tin đại tướng Võ Nguyên Giáp mời đoàn vào thăm tại nhà riêng lúc 16 giờ 15 phút. Thời gian quá gấp, cả đoàn vô cùng phấn khởi xen lẫn bồi hồi xúc động. Anh em khẩn trương thay lễ phục chỉnh tề, xuống sân nhà khách chờ đợi. Mới 15 giờ 45 phút trưởng đoàn đã giục anh em lên xe, thiếu tá Thạch ngồi trước ca bin dẫn đường.

Xe dừng trên khoảng đất trống đối diện nhà đại tướng, tất cả xuống xe đứng chờ lệnh. Gió chiều Hà Nội rét như cắt da thịt nhưng không ai cảm thấy lạnh vì mải chờ đợi giờ phút được gặp mặt vị tổng chỉ huy tối cao thao lược, tài ba và đức độ song toàn. Người Anh Cả của quân đội nhân dân Việt Namđược quân và dân ta quý trọng, bè bạn năm châu ngưỡng mộ, kẻ thù nể phục.

Đại tá Nguyễn Huyên - trợ lý riêng của đại tướng đón đoàn trước cổng nhà. Hóa ra anh Huyên và anh Năm Đàng đã quen nhau trong chiến trường trước đây nên khi được gặp lại nhau hai người vui mừng khôn xiết. Anh Huyên hướng dẫn đoàn vào văn phòng thông báo những chi tiết cần biết trước khi gặp đại tướng. Anh khẳng định thông thường các đoàn đến thăm thì câu đầu tiên Đại tướng hỏi là đã vào Lăng viếng Bác chưa? Nếu chưa thì Đại tướng không tiếp. Trường hợp của đoàn cựu chiến binh Sư đoàn 9 là một đặc biệt - ngoại lệ.

Anh Huyên nói vì lý do sức khỏe nên qui định mỗi ngày đại tướng chỉ làm việc, tiếp khách trên dưới một tiếng đồng hồ và tiếp mỗi đoàn khoảng 15 phút trở lại. Ngày nay đại tướng dự hội nghị các doanh nhân đã hơn hai tiếng đồng hồ. Vừa về đến nhà người hãy còn mệt nhưng nghe có đoàn cựu chiến binh Sư đoàn 9 từ miền Nam ra thăm là đại tướng muốn đón tiếp ngay.

Vì vậy anh đề nghị lúc phát biểu hoặc trả lời khi đại tướng hỏi phải nói thật ngắn gọn. Đặc biệt là đừng làm điều gì để đại tướng quá xúc động. Cả đoàn theo chân anh Huyên sang phòng tiếp khách của đại tướng sắp xếp ổn định chỗ ngồi. Trên bốn bức tường phòng khách treo kín những bức trướng của nhiều địa phương, cơ quan, đơn vị, nhiều nước tặng cho đại tướng.

Anh Huyên cho biết bộ sa long bằng gỗ quý đoàn đang ngồi là của Đảng và Chính phủ Lào. Quà của đại tướng được tặng trưng bày tại đây chỉ trên dưới một phần ba, số còn lại phải lưu giữ trong kho vì không có chỗ để trưng bày. Mọi người hồi hộp, cố hình dung diện mạo của đại tướng khi bước vào phòng khách tiếp đoàn. Và thời khắc chờ đợi đó đã đến sau khi anh Huyên nói với vào trong là đoàn đã sẵn sàng.

Từ cửa nhỏ nằm ở góc trái sát bức tường trong cùng đại tướng bước ra. Những bước đi tuy chậm nhưng khá vững, theo sau là các đồng chí giúp việc. Mọi người đứng dậy vỗ tay hoan hô, chúc đại tướng khỏe. Đại tướng khoác tay nói: Cám ơn các đồng chí. Sau khi nhìn hết lượt các thành viên của đoàn, đại tướng ngồi xuống ghế sa long loại dài ở đầu bàn. Anh Huyên mời trưởng và phó đoàn ngồi kề hai bên đại tướng. Mọi người cùng ngồi xuống các chiếc ghế sa long loại đơn, đặt dọc hai bên bàn. 

 Anh Năm Đàng thay mặt đoàn đứng lên thưa: Xin kính chuyển đến đại tướng lời thăm hỏi của cựu chiến binh và toàn thể cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 9. Các đồng chí trong Nam dặn đoàn ra Bắc cố gắng xin vào thăm đại tướng cho bằng được để về kể lại cho anh em nghe. Đoàn thấy vô cùng vinh dự và mãn nguyện được đại tướng đón tiếp, cũng hết sức vui mừng thấy đại tướng vẫn mạnh khỏe. Trước tiên xin phép được hôn đại tướng. Hôn xong anh nói ngay “Kính chúc đại tướng luôn mạnh khỏe, sống lâu muôn tuổi”.

Sau đó anh thay mặt đoàn báo mục đích ra miền Bắc lần này là đi qua đường Trường sơn, viếng Lăng Bác, họp mặt đại diện cựu chiến binh Sư đoàn 9 khu vực Hà Nội và nguyện vọng thiết tha nhất là làm sao được vào nhà riêng thăm đại tướng. Thay mặt đoàn, anh gắn cho đại tướng kỷ niệm chương 40 năm thành lập Sư đoàn. Đại tướng rưng rưng nước mắt, nén xúc động thăm hỏi sức khỏe của đoàn, tình hình của cựu chiến binh và cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 9 hiện nay. 

Đại tướng nói chậm rãi “Tự đáy lòng tôi thật vô cùng xúc động khi được tin đoàn cựu chiến binh Sư đoàn 9 vượt chặng đường xa từ miền Nam ra thăm. Sư đoàn 9 là Sư đoàn anh hùng, lập nhiều chiến công oanh liệt điển hình là trận đánh Bàu Bàng diệt hơn hai ngàn tên Mỹ. Tôi mong các đồng chí hiểu rằng Việt Nam là một nước anh hùng, dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng, nhưng Việt Nam ta lại là một nước nghèo. Vì vậy các đồng chí nên tích cực tham gia công tác địa phương, xây dựng chính quyền, đóng góp sức mình vào công cuộc phát triển kinh tế của nước nhà. Quan tâm giáo dục con cháu học giỏi để góp phần xây dựng đất nước, tiếp tục đi theo con đường cha ông các cháu đã đi". Đại tướng nhắc nhở cựu chiến binh Sư đoàn 9 phải luôn xứng đáng là Bộ Đội Cụ Hồ, cảnh giác trước các âm mưu thâm độc của kẻ thù. . . Đại tướng hỏi: "Cựu chiến binh Sư đoàn 9 có tham gia công tác địa phương nơi mình ở không? có bao nhiêu anh em còn nghèo ?

Anh Năm Đàng đứng lên trả lời tóm tắt những nội dung đại tướng hỏi. Nghe xong đại tướng áp tay lên ngực trái như trước, nói tiếp “Giờ thì tôi rất vui khi được nghe báo lại những công việc cựu chiến binh Sư đoàn 9 đã làm. Các đồng chí hãy phát huy hơn nữa. Nhờ các đồng chí chuyển lời tôi thăm hỏi cựu chiến binh và cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 9, chúc sức khỏe các chị nhà. Các đồng chí nhớ nói với con cháu mình rằng đại tướng nhắn các cháu phải cố gắng học giỏi để xây dựng đất nước.” Các bạn ơi! Đại tướng của chúng ta dù tuổi đã cao, sức đã yếu nhưng trí óc vẫn minh mẫn thông tuệ, thái độ luôn ân cần, cử chỉ thật gần gũi, quan tâm đến cả gia đình của lính làm cho chúng tôi không ai kềm được xúc động, có nhiều người rớm lệ.

Vì thấy thời gian tiếp đoàn đã hơn nửa giờ, ngại sức khỏe của đại tướng nên anh Huyên nhắc khéo, đề nghị đại tướng chụp ảnh kỷ niệm. Trước hết anh sắp xếp vị trí chụp ảnh tập thể; ai nấy đều muốn được chụp ảnh riêng với đại tướng. Điều này trước đó anh Huyên đã không đồng ý với đề nghị của anh Năm Đàng, cũng chỉ vì lo cho sức khỏe của đại tướng. Nhưng đại tướng thì cứ nán lại để chụp ảnh chung với một số anh.

Phút chia tay không ai muốn rồi cũng phải đến. Từng người một đến hôn đại tướng, anh Năm Đàng được hôn thêm lần nữa. Mọi người ra về trong khi đại tướng cứ đứng nguyên đấy nhìn theo cho đến người sau cùng bước ra khỏi phòng, trong khóe mắt của Người còn nguyên ngấn lệ. Khi đoàn ra đến cổng anh Năm Đàng và anh Huyên, đôi bạn chiến đấu ngày xưa chụp chung một pô ảnh làm kỷ niệm. 

Về đến Trạm 66B đã thấy chén dĩa của bữa cơm tối bày sẵn trên bàn. Đồng chí phụ trách Trạm thông báo với đoàn ý kiến của Bộ Tổng Tham mưu là những ngày đoàn lưu lại Hà Nội thì trạm có trách nhiệm lo chu đáo việc ăn nghỉ, mọi phí tổn do Bộ Tổng Tham mưu đài thọ. Vừa dùng xong bữa tối anh Năm Đàng làm một số việc chuẩn bị cho những ngày sắp tới như:

1. Tiếp thiếu tướng Vũ Viết Cam - phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo đến thăm đoàn. Chuyển lời thăm hỏi của trung tướng Nguyễn Chí Vịnh- Tổng cục trưởng và thiếu tướng Trần Nam Phi - Chính ủy vì cả hai đang công tác ở nước ngoài. Thiếu tướng Vũ Viết Cam ngỏ lời mời đoàn dùng bữa thân mật với Tổng cục vào tối mai, anh Năm Đàng thay mặt đoàn vui vẻ nhận lời.

2. Trao đổi thống nhất với đại tá Ngô Trọng Trạm - Trưởng Ban liên lạc truyền thống Sư đoàn 9 tại Hà Nội về nội dung cuộc họp mặt đại diện cựu chiến binh Sư đoàn 9 khu vực Hà Nội vào lúc 9 giờ sáng chủ nhật - ngày 20.11.2005 tại Trạm 66B Bộ Quốc Phòng. 

3. Nhờ đồng chí Trạm gọi điện thoại xin cái hẹn vào ngày mai đoàn đến thăm xã giao một số tướng lãnh công tác tại Bộ Quốc phòng, các tướng lãnh có một thời gian gắn bó với Sư đoàn 9 tại chiến trường miền Nam trước đây, nay đã nghỉ hưu, đang sinh sống tại Hà Nội. Kết quả là qua điện thoại mọi người đều vui vẻ nhận lời và hẹn giờ đón tiếp đoàn. 

Ngày 19.11.2005:
Hôm nay sau khi ăn sáng, theo lịch hẹn đồng chí Trạm đưa đoàn đến từng nhà riêng thăm xã giao các vị tướng lãnh và trao tặng quyển lịch sử ảnh Sư đoàn 9, gắn kỷ niệm chương 40 năm thành lập Sư đoàn. Nhà các tướng lãnh ở gần nhau trong khu Lý Nam Đế gần Bộ Quốc phòng. Tại các đầu đường đều có quân nhân canh gác bảo vệ cẩn mật. 

Vị tướng đầu tiên đoàn đến thăm tại nhà riêng là trung tướng Nguyễn Thế Bôn - nguyên tham mưu trưởng đầu tiên của Sư đoàn 9. Vị tướng thứ hai là thượng tướng Lê Ngọc Hiền - nguyên Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Miền. Tiếp theo là trung tướng Đỗ Đức - nguyên Trưởng phòng quân lực Miền.

Buổi chiều đoàn đến thăm gia đình của thượng tướng Lê Văn Dũng - Bí thư Trung ương Đảng - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; trung tướng Nguyễn Năng Nguyễn - Phó Tổng Tham mưu trưởng; thượng tướng Phan Trung Kiên - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; trung tướng Đặng Quân Thụy - Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Hội cựu chiến binh Việt Nam - nguyên phó Chủ tịch Quốc hội, trước đây có một thời là bạn chiến đấu của anh Năm Đàng. 

Chiều xuống, đúng hẹn xe Tổng cục Tình báo đến Trạm 66B đưa đoàn đi ăn tối tại khu vực riêng của Tổng cục trên đường Tây Hồ. Bữa ăn được chuẩn bị khá chu tất từ trước đó. Sau lời phát biểu ngắn gọn của anh Năm Đàng và thiếu tướng Vũ Viết Cam; cán bộ Tổng cục trao cho mỗi thành viên của đoàn một phong bì gọi là làm lộ phí. Sau đó bữa tiệc dọn ra với nhiều loại rượu bia, thức ăn đắt tiền do người thành thạo về ẩm thực chế biến. Mọi người ngỡ ngàng trước sự tiếp đãi trọng thị và ưu ái đặc biệt của Tổng cục 2 dành cho đoàn. 

Vừa về đến Trạm 66B Chín Cứ nhận được điện thoại của Tư Nguyễn thông báo ngày mai Lăng Bác sẽ mở cửa cho riêng đoàn vào viếng. Đây quả là một đặc cách hiếm hoi trong thời kỳ Lăng ngưng đón khách viếng để bảo dưỡng hằng năm. Một tin vui làm nhiều người cả đêm rạo rực khó ngủ.

Ngày 20.11.2005:
Sáng nay các thành viên trong đoàn dậy sớm hơn thường lệ. Sau khi ăn sáng mọi người khẩn trương về phòng thay lễ phục xuống sân nhà khách ngồi chờ dưới tiết trời lập đông giá buốt. Đúng 8 giờ xe của Tư Nguyễn đến. Không ai bảo ai, mọi người nhanh chân lên xe ngồi cứ như thể sợ giờ chót sẽ có thay đổi, không được vào Lăng viếng Bác. 

Tài xế cho xe bám sát theo xe Tư Nguyễn, chạy thẳng vào khu Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Bác. Thiếu tướng Lâm - Chính ủy, thiếu tướng Nghị -Tư lệnh đơn vị bảo vệ Lăng đã ngồi chờ đoàn tại phòng khách Bộ Tư lệnh. Tư Nguyễn giới thiệu thành viên hai bên; anh Năm Đàng báo cáo mục đích của đoàn cựu chiến binh Sư đoàn 9 ra miền Bắc lần này. Sau đó đích thân hai thiếu tướng Bộ Tư lệnh và trung tướng Nguyễn cùng dẫn đoàn vào cửa hông Lăng Bác.

Vẫn như bấy lâu nay, nhiệt độ nội thất Lăng luôn được duy trì ở chỉ số tốt nhất theo yêu cầu bảo quản cho thi hài Bác được lâu dài. Không khí trong Lăng im lặng tôn nghiêm. Bước chân của từng người cũng đi khẽ nhẹ như sợ làm Bác giật mình thức giấc, khi Người đang cần một giấc ngủ thật bình yên. Đứng trước Bác ta thấy mình nhỏ bé nhưng gần gũi biết bao bởi vì Người là hiện thân của tất cả chúng ta. Người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của thế giới đã được Unesco - Liên Hiệp Quốc phong tặng. Giờ đang nằm nghỉ nơi đây sau khi dành cả đời lo cho dân cho nước.

Bất ngờ Chính ủy Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng tuyên bố cho đoàn xuống tận tầng hầm nơi Bác nằm. Tức thì lần lượt từng hai người một cùng xuống hầm, bước lên bậc gỗ, đứng sát linh cữu bằng thủy tinh trong suốt, nhìn kỹ gương mặt hiền từ của Bác. Vị cha già dân tộc kính yêu vẫn phơ phơ chòm râu bạc, thanh thản khép chặt đôi mi chìm vào giấc ngủ mênh mông.

Ôi! diễm phúc lớn lao này có mấy ai trên cõi đời được hưởng. Chính ủy tuyên bố tiếp là thời gian ngắm nhìn Bác không hạn chế. Mọi người chưa kịp mừng thì anh Năm Đàng phán rằng mỗi người chỉ được đứng ngắm nhìn Bác trên dưới một phút là bước lên để nhường chỗ cho người khác. Vì rằng sắp đến giờ trở về Trạm 66B họp mặt đại diện cựu chiến binh Sư đoàn 9 khu vực Hà Nội.    

Rời Lăng Bác, trong lòng của mỗi người dâng lên một niềm vui khó tả. Sau này không thể được hưởng hạnh phúc như thế này thêm một lần nào nữa. Ngồi trên xe trở về điểm họp mặt mà mọi người vẫn chưa hết bàng hoàng, cứ miên man suy nghĩ những sự kiện diễn ra vừa rồi như một giấc mơ chứ không phải là sự thật. Và cũng thật cảm động bởi trong hai ngày vừa qua đoàn luôn được đáp ứng trọn vẹn các yêu cầu, có nhiều việc vượt ra ngoài sự mong đợi.

Xin cám ơn Bộ Quốc phòng, nhất là anh Tư Nguyễn đã làm hết sức mình cho nguyện vọng thiết tha của đoàn muốn gặp mặt Võ đại tướng và vào Lăng viếng Bác được toại nguyện. Thoả mãn tình cảm của những cựu chiến binh Sư đoàn 9 đối với người Anh Cả của quân đội và vị Lãnh Tụ kính yêu.     

Khi xe về đến cổng Trạm 66B đã nghe râm ran tiếng nói cười của anh em cựu chiến binh Sư đoàn 9 tại Hà Nội hiện đang có mặt trong phòng họp. Khi đoàn vừa bước vào là anh em chào hỏi rối rít. Trong số họ có người chưa từng quen biết do lính Sư đoàn quá đông, về đơn vị nhiều thời kỳ khác nhau.

Buổi họp mặt rất vinh dự được những vị tướng đương chức như thượng tướng Lê Văn Dũng, trung tướng Nguyễn Năng Nguyễn, thiếu tướng Vũ Viết Cam và nhiều tướng lãnh đã nghỉ hưu tại Hà Nội đến dự. Sau thời gian ngắn tay bắt mặt mừng, thăm hỏi lẫn nhau là bắt đầu khai mạc buổi họp mặt. Chương trình nhẹ nhàng ngắn gọn nhưng đậm đà nghĩa tình đồng đội.

Mở đầu đồng chí Ngô Trọng Trạm tuyên bố lý do và giới thiệu đại biểu. Anh Năm Đàng báo cáo tóm tắt kết quả hoạt động của Ban liên lạc truyền thống Sư đoàn 9 khu vực thành phố Hồ Chí Minh 13 năm qua. Trung tướng Nguyễn Thế Bôn phát biểu vài ý nhỏ về chiến thắng Bàu Bàng năm 1965 và đọc bài thơ vừa sáng tác chúc mừng cuộc họp mặt. Đồng chí Hải thay mặt cựu chiến binh Đoàn Đồng Xoài khu vực Hà Nội phát biểu và trao tặng đoàn bức tranh hình ảnh Hà Nội mùa đông. Sau cùng bữa tiệc do Bộ Tổng Tham mưu chiêu đãi được dọn ra. Không khí ồn ào vui vẻ của những người lính lâu ngày mới gặp lại nhau rôm rả suốt bữa ăn.

Tiệc vừa tàn, trưởng đoàn thay mặt anh em tiếp nhận quà của Tổng cục Chính trị và quà của Bộ Tổng Tham mưu gửi tặng cho các thành viên của đoàn. Buổi chiều anh em đi mua sắm ở chợ Đồng Xuân. Nhưng rốt cuộc chẳng ai mua được gì nhiều bởi hầu hết hàng hóa bày bán ở đây đều có tại thành phố Hồ Chí Minh. Riêng anh Ba Lương mua 15 kí lô tỏi tặng cho các thành viên trong đoàn.

Tối đến, các anh Giao- Hải- Bình- Thi- Thịnh, những cựu chiến binh Trung đoàn 2 mà phần đông là lính Tiểu đoàn 6 trước đây đưa đoàn đi ăn tối. Trước tiên là nhậu thịt chó ở Nhật Tân, sau về phố Huế dùng cơm uống bia. Cả chủ lẫn khách cùng hát những bài ca truyền thống sôi nổi đến tận khuya.

Ngày 21.11.2005:
Sáng nay khi đang chuẩn bị hành lý lên đường trở về Nam thì Chín Cứ nhận được điện thoại của Tư Nguyễn báo sẽ đến tiễn chân đoàn. Đúng 7 giờ xe Tư Nguyễn đến, mang theo tình cảm như lưu luyến tiễn đưa người thân sắp vượt ngàn dặm đường trở lại đất phương nam. Anh còn gởi cho đoàn một chai rượu loại đắt tiền, mà ta ngầm hiểu là những người lính già miền Nam khi uống ngụm rượu thâm tình này sẽ ấm lòng trong cơn giá rét của đất trời phương bắc.

Vẫy tay chào trong khi xe từ từ lăn bánh. Đoàn mang về miền Nam tình cảm nồng ấm của Võ đại tướng, Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Tình báo, Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Bác và của các vị tướng lãnh. Đặc biệt là anh Tư Nguyễn và tập thể cán bộ chiến sĩ trạm 66B trong thời gian ngắn ngủi đoàn lưu lại thủ đô Hà Nội, trái tim thân yêu của Tổ quốc.

Xe ra quốc lộ xuôi về miền Nam. Trong ngày đoàn sẽ đi qua các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình. Trưa nay đoàn dùng bữa tại thị trấn Còng- Tĩnh Gia-Thanh Hóa, bữa cơm có món ăn đặc thù của xứ Thanh là rau má để cả rễ. Trên đường đoàn dừng lại ngã ba Nghèn viếng tượng đài lịch sử, nơi chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của tỉnh Hà Tĩnh treo lá cờ búa liềm trong cuộc nổi dậy của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930–1931. 

Về đến thành phố Đồng Hới- trung tâm hành chánh tỉnh Quảng Bình khi mặt trời đã sắp lặn. Xe chạy một vòng mới tìm được khách sạn Hương Giang nép mình khiêm tốn phía sau một dãy phố. Giá thuê phòng cũng vừa phải so với túi tiền vốn rất khiêm tốn của cựu chiến binh. Đồng Hới ít lạnh hơn Hà Nội nên mọi người ngủ ngon giấc, lấy lại phần nào sức lực cho hành trình xuôi nam những ngày sắp tới.

Ngày 22.11.2005:
Sáng nay, trước khi theo quốc lộ 1A xuôi Nam, đoàn rẽ vào cầu Nhật Lệ, ngắm sơ qua bãi biển Nhật Lệ, tham quan khu nhà nghỉ thuộc loại sang trọng hiện đang hối hả xây dựng. Sau đó trở ra quốc lộ để chạy thẳng về thành phố Đà Nẵng nghỉ qua đêm. Gần một giờ xe chạy, đoàn đến cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải.

Chiếc cầu nổi tiếng từ lâu không phải vì bài hát Câu hò bên bờ Hiền Lương của nhạc sĩ Hoàng Hiệp, được nhiều thế hệ người Việt Nam yêu thích mà còn vì nó nằm vắt ngang vết chém lên thân mình Tổ quốc Việt Nam chia cắt ròng rã qua gần một phần tư thế kỷ. Do lòng tham không đáy của đế quốc Mỹ chuyên đi xâm chiếm xứ người mà một thời con Lạc cháu Hồng đứng về hai phía chiến tuyến. Thế là khu vực hai bên bờ sông Bến Hải tại vĩ tuyến 17 này luôn là tọa độ lửa ác liệt nhất trong suốt cuộc chiến tranh vừa qua.    

Cả đoàn xuống xe chụp ảnh tại đầu cầu bờ bắc xong lại sang chụp ảnh tại đầu cầu bờ nam. Tại đây có bức tượng người phụ nữ và đứa bé đứng mỏi mắt nhìn sang bờ bắc. Bức tượng khắc họa lại hình ảnh người vợ, người con ở miền Nam chờ chồng, chờ cha tập kết ra miền Bắc. Ra đi có hứa hai năm sẽ trở về sum họp gia đình lúc cả nước tổng tuyển cử theo hiệp định Giơ Neo. Nhưng Mỹ lại không muốn điều đó xảy ra. Từ đấy biết bao gia đình ly tán; cha xa con, vợ xa chồng và cuộc chiến tàn khốc nhất trong lịch sử Việt Nam diễn ra như chúng ta đã biết. Để phải mất 21 năm sau mới có được niềm vui đoàn tụ và cũng chỉ có một phần ít ỏi trong số họ còn sống sót được hưởng.

Nghe nói khi xây xong chiếc cầu Hiền Lương mới này người ta định dỡ bỏ chiếc cầu chứng tích một thời bi tráng của dân tộc. Thật may là dân trong vùng cương quyết phản đối nên ý định phi lịch sử kia không thực hiện được. Xin cúi đầu khâm phục nhân dân Quảng Trị anh hùng ở đầu sóng ngọn gió; đã chiến đấu thật kiên cường trên chiến trường khốc liệt, đầy cam go này. Rồi hôm nay cũng chính những con người ấy lại kịp ra tay ngăn chặn những cái đầu đen tối toan dỡ bỏ chứng tích lịch sử đáng được trân trọng giữ gìn cho các thế hệ mai sau. Để chúng hiểu được cha ông ngày xưa chịu đựng mất mát đau thương như thế nào mới có được cuộc sống thái bình an lạc như hôm nay. Vậy nên không người Việt Nam nào được quên điều đó và xin đừng bao giờ dỡ bỏ chiếc cầu Hiền Lương lịch sử như một phần máu thịt của chúng ta.

Rời cầu Hiền Lương mà lòng buồn man mác như thể cuộc chiến vừa mới đi qua. Bù lại một niềm vui khi nghe anh Bảy Gia thông báo đã liên lạc được với trung tướng Huỳnh Ngọc Sơn - Tư lệnh Quân khu Năm đang họp Quốc hội tại Hà Nội. Anh cho biết trung tướng Sơn đã ra lệnh cho văn phòng Quân khu tiếp đón, sắp xếp nơi ăn chỗ nghỉ cho đoàn tại nhà khách T20 của Quân khu tọa lạc trên bờ biển Mỹ Khê - thành phố Đà Nẵng.

Trên đường đoàn dừng lại chụp ảnh kỷ niệm tại tượng đài Thông tin liên lạc Dốc Miếu. Xong lại tiếp tục theo quốc lộ chạy thẳng về cố đô Huế để kịp giờ ăn trưa. Bầu trời Quảng Trị đầy mây, lất phất cơn mưa nhỏ dấu hiệu của mùa mưa dai dẳng đất miền Trung đang vào mùa. Những thửa ruộng hai bên đường đầy ắp nước, lúa xanh mơn mởn hứa hẹn một mùa vụ mới.

Xe vào thành phố Huế chưa đến 10 giờ, nhưng vì thời gian lộ trình sắp tới không cho phép đoàn lưu lại thăm thú cố đô. Tài xế cho xe chạy thẳng vào cơ sở sản xuất kẹo mè xửng để anh em mua về làm quà. Qua Đập Đá ăn trưa chớp nhoáng xong lại tranh thủ đến cửa Ngọ Môn mua vé vào Đại Nội cho vài người có yêu cầu được tham quan Hoàng cung triều Nguyễn. Sau đó chạy thẳng ra Lăng Cô mua các loại mắm đặc sản của Huế rồi đi vào đường hầm Hải Vân. 

Cách vọng gác chừng 50 mét tài xế Long dừng lại, xuống xe xin người gác cửa đường hầm cho phép chụp ảnh kỷ niệm. Có lẽ thông cảm cho những người lính già nên người gác chấp thuận một điều không được phép thế này. Qua cửa nam tài xế Long cũng xuống xe xin được chụp ảnh. Người gác cửa đường hầm bên này có vẻ khó chịu hơn. Nhưng cuối cùng đành phải đồng ý nhờ thái độ quá mềm dẻo khéo léo của anh tài xế. Rời đường hầm Hải Vân mọi người thấy mãn nguyện vì mang về được hình ảnh của đường hầm mà ở nhà nhiều người thân chưa được nhìn thấy.

Từ Hải Vân đến thành phố Đà Nẵng chỉ trên dưới hai mươi phút xe chạy nên về đến nhà khách T20 rất sớm. Sĩ quan trực nhà khách tiếp đón chu đáo, xếp ngay phòng nghỉ. Sau đó cả đoàn đi ăn bê thui do anh Bảy Gia thết đãi. Bữa ăn tối tươm tất tại nhà ăn trạm T20 có đại tá chánh văn phòng Quân khu và các sĩ quan phụ trách nhà khách cùng dự bữa.

Bờ biển Mỹ Khê thơ mộng, vừa được xây dựng thật khang trang và sạch đẹp. Nhưng vì mệt mỏi suốt chặng đường dài trong những ngày qua nên không ai muốn đi dạo buổi tối. Mọi người tranh thủ ngủ sớm, lo dưỡng sức cho quảng đường dài còn lại.

Ngày 23.11.2005:
Từ giã cán bộ chiến sĩ nhà nghỉ T20 Quân khu Năm mến khách để đến thành phố Tuy Hòa nghỉ qua đêm. Trước khi ra quốc lộ 1A, xe lướt qua chùa Non Nước xem đủ loại tượng bằng đá hoa cương khai thác từ núi Ngũ Hành Sơn bày bán la liệt. Đây phố Hội An trải qua bao cuộc bể dâu thăng trầm của lịch sử hôm nay trở thành phố cổ; được Unesco - Liên Hiệp Quốc công nhận di sản văn hóa thế giới.

Đi trên sông Hoài làm ta cứ  mường tượng một thời giao thương tấp nập nơi đây hơn hai trăm năm về trước. Lướt qua bãi biển cửa Đại đang gấp rút xây dựng nhiều nhà nghỉ cao cấp. Khách trọ phần đông là người nước ngoài vì tiền phòng rất đắt và tính bằng đô la Mỹ. Không phải người Việt Nam nào cũng có khả năng và mạnh dạn mở túi tiền.

                      Bồi hồi qua phố Hội An
            Đâu đây tiếng vọng thời gian gọi mời
                      Người xưa lưu lạc khắp nơi
            Sông Hoài sầm uất một thời còn đâu!

Đà Nẵng là biên cương địa đầu của vương quốc Chiêm Thành sau khi cắt châu Ô, châu Lý cho Đại Việt. Tại huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam hiện còn thánh địa Mỹ Sơn (Indrapura) công trình kiến trúc rất đồ sộ của Chiêm Thành đang được trùng tu phục chế trước nguy cơ sắp biến thành phế tích. Quảng Ngãi có di chỉ Sa Huỳnh, các nhà khảo cổ khai quật tìm thấy trên hai ngàn cổ vật thuộc nền văn hóa Chăm Pa. Ở Nha Trang có Tháp Bà Ponagar, xa hơn nữa còn nhiều tháp Chàm ở tận Ninh Thuận, Bình Thuận….

Vương quốc này ngày xưa có thời thật hưng thịnh. Đội tượng binh của họ đã bao phen làm tan tác đội hình đối phương, điên đầu các tướng lãnh thiếu kinh nghiệm trận mạc. Vó ngựa Chiêm bang đã từng giẫm nát các tỉnh phía nam của nước Đại Việt đến cận thành Thăng Long. Quân Chiêm dưới thời Chế Bồng Nga thường hay kéo sang đốt nhà cướp của, cưỡng hiếp dân lành Đại Việt. Vào đời nhà Trần đầu thế kỷ 13 vua Chiêm còn cho quân Nguyên Mông mượn đường ngang nhiên tiến đánh vào nước Đại Việt từ phía nam.       

 Luật Trời luôn phán xử rất công minh. Chả thế mà vương quốc Chiêm Thành bị tiêu vong sau trận quyết đấu tại Đồ Bàn. Ngày nay người ta thường viết cũng như gọi vương quốc Chăm Pa mà không bao giờ gọi Chiêm Thành. Có thể vì ngại gợi lại nỗi đau mất nước của người Chăm, hiện chỉ là dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; sống rải rác từ miền trung Trung Bộ đến cực nam Trung Bộ và số ít sinh sống tại vài khu vực ở đồng bằng Nam Bộ, gần biên giới Cam Pu Chia.  

Thuở nhỏ ta thường được dạy các chúa Nguyễn có công mở mang bờ cõi về phương nam. Là hậu sinh ta chỉ biết thầm cám ơn tiền nhân không quản vất vả, hiểm nguy mở rộng cương thổ, để lại cho cháu con cả dãy giang sơn gấm vóc ngày nay. Nhưng đứng trước các tháp Chàm cổ kính, trầm mặc buồn tênh giữa cô đơn lạnh lẽo sao lòng ta cảm thấy ngậm ngùi. Đâu rồi cả nền văn hóa rực rỡ một thời đã biến mất cùng với vương quốc của nó. Luật Trời nghiệt ngã đến vậy sao...? Hỡi vong hồn các vì vua Chiêm Thành! Sao các Ngài có thể thanh thản tiêu dao tận thế giới xa xăm kia, bỏ mặc con dân Chiêm quốc của mình sống bơ vơ, lạc loài. Xin hãy về đây luôn phù hộ cho họ sống hòa đồng, thân thiện với cộng đồng các dân tộc Việt Nam. 

Tạo hóa ưu ái ban cho miền Trung phong cảnh rất nên thơ để người đời chiêm ngưỡng. Đến con sông người xưa đặt tên cũng rất dễ thương như sông Hương, sông Hoài, sông Thu Bồn, sông Trà Khúc. . .Bờ biển miền Trung vốn được coi là sơn thủy hữu tình nhất nước. Trên bờ thì núi non chập chùng, dưới biển thì nước xanh biêng biếc quanh năm rì rầm sóng vỗ. Đẹp như bức tranh thủy mặc do một danh họa bậc thầy khoa tay phác thảo từ thuở xa xưa. 

Đến lưỡng Quảng được mệnh danh là đất học. Quê hương của những sĩ phu yêu nước giỏi chữ Thánh Hiền, tiên phong Tây học. Là một trong những cái nôi khởi xướng, cổ xúy phong trào Duy Tân, nuôi khát vọng nâng cao dân trí cho nòi giống. Đất này ngày xưa sản sinh ra nhiều quan văn học thức uyên thâm; những võ tướng anh tài thao lược, tinh thông binh thư, nam chinh bắc chiến. Thời đánh Mỹ là vùng hứng chịu nhiều bom đạn, chịu nhiều hy sinh và cũng xuất hiện nhiều anh hùng.

Đúng vậy! Đây Quảng Nam quê hương người liệt sĩ anh hùng bất khuất Nguyễn Văn Trổi và người con gái gan góc, trung kiên Trần Thị Lý chịu đựng tra tấn tàn bạo nghe cứ tưởng như chuyện xảy ra thời trung cổ. Đây Quảng Ngãi còn âm hưởng hào khí của khởi nghĩa Ba Tơ. Có Đức Phổ, ta biết đến nhờ nhật ký của nữ bác sĩ - liệt sĩ Đặng Thùy Trâm. Một quả bom nhân bản do chính người Mỹ kích nổ trong lòng lương tri nước Mỹ, được nhà xuất bản Hội nhà văn vừa ấn hành và rất nhiều báo đăng tải. 

Qua đất Bình Định với rừng dừa Bồng Sơn, Tam Quan sum xuê rợp bóng mát trong các khu vườn nằm sát hai bên quốc lộ. Từ Quy Nhơn trở đi xe chạy men theo bờ biển. Qua gành Ráng, nơi an nghỉ của thi nhân tài hoa bạc mệnh Hàn Mạc Tử. Nằm trên sườn đồi thoai thoải này nhà thơ tha hồ ngắm trăng, viết tiếp những áng thơ về trăng nghe đến nao lòng như sinh thời ông viết để lại cho đời.

Cũng chính tại Bình Định này hơn hai trăm năm trở về trước, ba anh em người anh hùng áo vải cờ đào đất Tây Sơn dấy binh khởi nghiệp. Có phải truyền thống đó còn lưu truyền đến ngày nay hay không mà dân ở đây nổi tiếng rất giỏi võ nghệ. Phụ nữ cũng có người biết múa roi đi quyền. Tự hào hơn là trong nước và một vài quốc gia vẫn đang tồn tại một môn phái võ thuật mang tên Võ Bình Định hẳn hoi.

Còn trên sáu mươi cây số nữa mới đến Tuy Hòa đã nhận được điện thoại của Tỉnh đội Phú Yên, hỏi xem đoàn đang đến đâu. Thì ra văn phòng Quân khu Năm chu đáo báo cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Phú Yên tiếp đón và lo ăn nghỉ cho đoàn. Vừa vào nhà khách T99 của Tỉnh đội đã được bộ phận lễ tân xếp ngay phòng nghỉ và cho biết có đại tá Phan Lớp - chỉ huy phó quân sự và đại tá Lê Mười - chủ tịch Hội cựu chiến binh tỉnh Phú Yên đến dùng bữa với đoàn. Tối đến, bữa ăn được dọn ra với những món hải sản hàng đầu thực đơn của làng ẩm thực Phú Yên.

Ngày 24.11.2005:
Bữa điểm tâm sáng nay do nhà nghỉ chuẩn bị khá tươm tất, có cả cà phê và được đại tá Phan Lớp đến cùng ăn để tiễn chân đoàn. Từ giã Phú Yên, xin cám ơn nữ thiếu tá phụ trách nhà khách tính tình vui vẻ cùng toàn thể cán bộ chiến sĩ T99 đã tận tâm phục vụ chúng tôi vô điều kiện trong một đêm đoàn dừng chân nghỉ tạm nơi đây. Xe qua cầu Đà Rằng, chiếc cầu hiện đang giữ kỷ lục cầu dài nhất miền Trung để leo lên đèo Cả.

Ngay trên đỉnh đèo là địa giới hành chính của tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hoà. Mặt nước Vũng Rô phẳng lặng xanh biêng biếc, ôm chặt lấy chân đèo.  Dưới chân đèo phía nam hiện ra bãi tắm rất đẹp, có tên cũng không kém phần hấp dẫn là bãi tắm Đại Lãnh. Nó hấp dẫn nhờ núp trong vịnh kín gió, bãi cát trắng phau uốn cong mềm mại nằm dưới hàng dương rợp bóng mát. Trong vịnh neo đậu hằng trăm tàu thuyền đánh cá của ngư dân địa phương màu sắc sặc sỡ.

Từ lưng chừng đèo nhìn xuống trông như bức tranh sơn dầu tuyệt mỹ, được vẽ công phu bởi họa sĩ tài danh thuộc trường phái tả thực. Phần đông du khách nghỉ mát tận trong thành phố Nha Trang cũng đến đây tắm biển hoặc chỉ để ngắm cảnh trí thiên nhiên, lắng nghe thời gian trôi qua khung cảnh êm ả của vùng biển cực nam Trung Bộ này. Xe chạy dọc theo bờ biển thành phố Nha Trang, thành phố yên bình và thơ mộng nhất trong các thành phố biển của Việt Nam.

Qua tỉnh Bình Thuận là dãy đất cuối cùng phía nam của vương quốc Chiêm Thành cổ xưa. Dọc đường ta vẫn thấy có những người đi chân đất khép nép sát lề đường, nước da sậm màu nắng gió, đầu trùm khăn, y phục trông lạ lẫm không giống cách ăn mặc của người Kinh… đó là người Chăm, một cách gọi ám chỉ người Chiêm Thành tội nghiệp của chúng ta.

Họ bước đi trên chính vương quốc cổ xưa của tổ tiên mình mà sao như đi trên đất khách. Bước chân rón rén ngập ngừng, ánh mắt rụt rè như nhìn trộm làm tim ta lại nhói đau. Chỉ có chân lý “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. . .” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định thì vết thương lịch sử ngàn năm kia mới mong liền sẹo.

Đêm nay nghỉ tại khu du lịch hòn Rơm là đêm ở bên nhau cuối cùng vì trưa ngày mai sẽ chia tay ai về nhà nấy. Thế là anh em bàn cùng góp tiền lại để tối nay phải thưởng thức các món đặc sản biển cho ra trò, có chuẩn bị cả hai thùng bia lon 333 do anh Năm Hùng và Chín Cứ mua sẵn từ sáng sớm.

Khổ nỗi mấy hôm nay biển động nên chẳng có mấy loại hải sản bày bán trên bờ biển, đành chịu nhâm nhi với món ghẹ và tôm sú. Dù vậy cũng phải đến quá nửa đêm mọi người mới chịu vào nghỉ trong các phòng ngủ tềnh toàng, thiếu tiện nghi và nặng mùi ẩm mốc mà giá thuê phòng lại khá cao.

Ngày 25.11.2005:
Sáng nay bắt đầu ngày cuối của hành trình xuyên Việt. Ngay từ rất sớm đoàn đã trả phòng, ra ngoại ô thành phố Phan Thiết điểm tâm món cơm tấm. Từ đây về thành phố Hồ Chí Minh chỉ hai trăm cây số. Trưởng đoàn dự kiến khoảng 12 giờ thì về đến nơi xuất phát.

Xe chạy với tốc độ khá nhanh nhưng suôn sẻ. Tài xế lại hạ quyết tâm về đến đích trước 11 giờ. Mọi người cười nói vui vẻ, gương mặt ai cũng tươi tắn hẳn lên. Chẳng bù cho những ngày qua hôm nào cũng có một vài người ốm nhẹ hoặc uể oải.

Sau 11 ngày vi vu trên đường xa ngàn dặm ra Bắc vào Nam, anh em nôn nóng muốn về đến nhà sớm. Trên xe anh Năm Đàng tranh thủ thông báo một số công việc phải làm khi về đến điểm xuất phát - tức là nhà ở của anh Năm. Đầu tiên là họp nhẹ nhàng đánh giá kết quả chuyến đi, công khai tài chánh. Sau là gia đình anh sẽ thết đãi bữa ăn trưa mà ở nhà đã chuẩn bị sẵn.

Dùng từ xuyên Việt trong chuyến đi này thì chưa thật chính xác bởi chỉ đi từ thành phố Hồ Chí Minh đến Hà Nội rồi quay lại. Nhưng đoàn cũng đã đi qua một chặng đường khá dài, gần hết chiều dài của đất nước. Xe dừng bánh tại nhà anh Năm Đàng chỉ mới 10 giờ 30 phút.

Vợ con anh Năm Đàng tất bật chuẩn bị dọn bữa trưa. Các thành viên thắp hương lên bàn thờ Hồ Chủ Tịch. Chín Cứ gấp rút tính toán, báo cáo công khai các khoản chi tiêu và hoàn trả tiền thừa lại cho từng người. Cuối cùng bữa tiệc liên hoan cũng diễn ra trong tiếng nói cười rôm rả của những người lính già Sư đoàn 9 hai lần anh hùng vừa thực hiện xong một chuyến về nguồn ấn tượng nhất trong đời họ.

TP. HCM, ngày 30 tháng 11 năm 2005.
NGUYỄN CỨ
 
                Vào Lăng viếng 
                                          BÁC
Hơn ba mươi năm đất nước thanh bình 
Những lính già phương Nam mới ra Hà Nội
Như kẻ mải đi xa nay tìm về nguồn cội 
Chúng con vào Lăng để viếng thăm Người
 
Hà Nội mùa này rét lắm Bác Hồ ơi !
Nhưng đến bên Người lòng con sao ấm lạ
Bác nằm đấy thản nhiên bình dị quá
Khép đôi mi gầy vào giấc ngủ mênh mông
 
Trời Ba Đình run rẩy bước vào đông 
Bên trong Lăng vẫn mùa Xuân vĩnh cửu 
Mặt trời ngày nào sáng ngời ngoài vũ trụ
Nay đã vào Lăng rực đỏ mãi ngàn năm
 
Mai mốt đây khi về lại miền Nam 
Con sẽ kể cho bạn bè, bà con, đồng đội 
Về miền Bắc thân yêu., về thủ đô Hà Nội
Và hình ảnh Bác Hồ nằm nghỉ ở trong Lăng
 
 
              Chiều mùa đông 
                                   HÀ NỘI
Ta thả bước qua chiều đông Hà Nội
Nghe miên man sóng vỗ mạn sông Hồng
Từ Nhà Lý về đây chấn hưng bờ cõi
Lịch sử ngàn năm quật khởi đất Thăng Long
 
Hà Nội dầm mình cơn rét đậm mùa đông
Vẫn bình thản dòng đời ngược xuôi hối hả
Có một người từ phương Nam xa lạ
Thấm thía thế nào là buốt giá Đông Đô
 
Thanh gươm thiêng còn đó dưới đáy hồ 
Để Hoàn Kiếm không mờ trong sử Việt 
Mặt hồ Gươm lung linh màu truyền thuyết
Khuôn Hoàng Thành in vết cố đô xưa
 
Chiều dạo bước qua lập đông Hà Nội
Nghe hồn thiêng sông núi vọng ngang trời
Góp nguyên khí bốn ngàn năm văn hiến
Giữ cho Hà Thành sức sống tuổi hai mươi