//
JA Teline III - шаблон joomla Книги

Monday, Dec 18th

Last updateSun, 17 Dec 2017 2am

You are here: Home LỊCH SỬ VÀ TƯ LIỆU LỊCH SỬ SƯ ĐOÀN 9 Phần thứ nhất (Chương một)

Phần thứ nhất (Chương một)

SƯ ĐOÀN BỘ BINH 9 TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1965-1975)

Chương một

SƯ ĐOÀN BỘ BINH 9 RA ĐỜI -

NHỮNG NĂM THÁNG ĐÁNH MỸ OANH LIỆT

(1965-1971)

I. SÁT CÁNH CÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG MIỀN ĐÔNG NAM BỘ CHIẾN ĐẤU, GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” CỦA MỸ

1. Sư đoàn bộ binh 9 ra đời

Mùa Hè năm 1965, tình hình miền Nam ngày càng trở nên nóng bỏng đối với giới cầm quyền nước Mỹ. Đội quân ngụy do Mỹ dày công xây dựng, trang bị, huấn luyện và chỉ huy, bị thất bại liên tiếp trong các chiến dịch Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài đang có nguy cơ sụp đổ. Ngụy quyền Sài Gòn khủng hoảng nghiêm trọng. Hệ thống “ấp chiến lược” tan rã từng mảng lớn. Phong trào đấu tranh của nhân dân các đô thị lên cao. Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” đứng trước sự thất bại hoàn toàn.

Trước tình thế ngày càng nguy khốn, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn buộc phải thay đổi chiến lược, ồ ạt đưa quân Mỹ và quân một số nước chư hầu vào tham chiến ở chiến trường miền Nam, đồng thời mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc, tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam Việt Nam.

Tháng 7 năm 1965, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn thông qua chiến lược “tìm và diệt” và kế hoạch ba giai đoạn của tướng Oét-mo-len, tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Giai đoạn 1, Mỹ, ngụy và chư hầu dồn nỗ lực vào chiến trường chính là Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Miền Đông Nam Bộ là chiến trường chủ yếu để thực hiện chiến lược “tìm diệt”. Mục tiêu của địch ở đây là tiêu diệt khối bộ đội chủ lực Miền, “bẻ gãy xương sống Việt cộng” và tiêu diệt bộ máy chỉ đạo, chỉ huy của miền Nam “làm tê liệt bộ não của cuộc chiến tranh”. Đồng bằng sông Cửu Long là địa bàn chính của chương trình “Bình định”.

Để thực hiện âm mưu và biện pháp chiến lược nói trên, Bộ chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam đã bố trí ở chiến trường miền Đông Nam Bộ những đơn vị tinh nhuệ có sức cơ động cao, hoả lực mạnh. Đó là lữ đoàn 173 cơ động bằng máy bay lên thẳng; sư đoàn bộ binh số 1, được mệnh danh là “Anh cả đỏ”, được tướng tá Mỹ ca ngợi là “thiện chiến, từng lập công xuất sắc trong chiến tranh thế giới thứ hai và chiến tranh Triều Tiên”; sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới” được “huấn luyện thành thạo chiến thuật chống du kích ở rừng rậm Châu Á”... Ba sư đoàn 25, 5, 10 chủ lực ngụy phụ trách các khu chiến thuật 31, 32, 33, ngăn chặn ta trên các hướng tây bắc, bắc – đông bắc, và đông nam Sài Gòn. Hai sư đoàn dù, thuỷ quân lục chiến thuộc lực lượng chiến lược của quân ngụy phối hợp với quân Mỹ và được Mỹ chi viện hoả lực đánh vào các căn cứ, chiếm lại các địa bàn chiến lược, mở rộng vành đai an ninh ở các tỉnh bao quanh Sài Gòn.

Trên đà thắng lợi trong Xuân Hè 1965, Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền chủ trương giữ vững thế chủ động tiến công, ra sức chuẩn bị và tăng cường lực lượng về mọi mặt, kiên quyết đập tan cuộc phản công chiến lược của Mỹ - ngụy trong mùa khô 1965-1966. Một cuộc động viên chính trị lớn đã được thực hiện trong nhân dân và các lực lượng vũ trang, tập trung vào việc xây dựng quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ.

Về mặt tổ chức, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền quyết định tập trung các trung đoàn bộï binh và binh chủng, thành lập các sư đoàn chủ lực. Ngày 2 tháng 9 năm 1965, Bộ Tư lệnh Miền ra quyết định thành lập hai sư đoàn bộ binh chủ lực đầu tiên: Sư đoàn 9 và Sư đoàn 5.

Ngay trong ngày 2 tháng 9 năm 1965, tại một khu rừng bên bờ suối Nhung căn cứ Mã Đà, Chiến khu Đ thuộc tỉnh Phước Thành (nay là xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai), Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền tổ chức lễ công bố quyết định thành lập Sư đoàn bộ binh 9, Sư đoàn chủ lực cơ động trực thuộc Miền, hoạt động chủ yếu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ. Để giữ bí mật, Sư đoàn mang mật danh “Công trường 9”, ngoài ra, Sư đoàn còn mang nhiều mật danh khác như Anh Tám, Công trường thép, Bình Dương, Đoàn K, Quảng Bình, Đoàn 63B, Đoàn 72, K85, Đoàn 85B, Đoàn 205B, Đoàn 54, H69 hoặc "dã chiến". Khi mới thành lập, Sư đoàn được biên chế ba trung đoàn bộ binh là Trung đoàn 1 (Đoàn Bình Giã), Trung đoàn 2 (Đoàn Đồng Xoài), Trung đoàn 3, một số tiểu đoàn, đại đội binh chủng, bảo đảm phục vụ và ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần.

Theo quyết định của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Sư đoàn khi thành lập gồm: Đại tá Hoàng Cầm, Tư lệnh; Đại tá Lê Văn Tưởng, Chính ủy; Thượng tá Hoàng Thế Thiện, Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị; Thượng tá Nguyễn Thế Bôn, Tham mưu trưởng. Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương ra quyết định thành lập Đảng bộ Sư đoàn, chỉ định Ban Chấp hành Đảng bộ Sư đoàn do đồng chí Lê Văn Tưởng làm Bí thư.

Trong phiên họp đầu tiên, ngày 15 tháng 10 năm 1965, Đảng ủy Sư đoàn nhận định: “Sư đoàn của chúng ta được xây dựng, trải qua một quá trình đấu tranh từ phong trào Đồng Khởi của nhân dân miền Nam đứng lên đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang để xây dựng lực lượng vũ trang của Đảng ở miền Nam, nhất là ở chiến trường Nam Bộ. Toàn Đảng bộ ta phải quán triệt đặc điểm này để phát huy chỗ mạnh, khắc phục chỗ yếu, nỗ lực xây dựng Sư đoàn thành quả đấm mạnh, nâng cao sức mạnh chiến đấu toàn diện và đồng đều, sẵn sàng nhận và hoàn thành bất cứ nhiệm vụ gì mà Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền giao cho”.

Trong đội hình của Sư đoàn có cán bộ, chiến sĩ quê ở khắp mọi miền đất nước. Nhiều cán bộ quê miền Nam hoặc quen thuộc chiến trường miền Nam, được tổ chức thành các trung đoàn chủ lực trên miền Bắc rồi hành quân vào chiến trường. Có những thanh niên mang nặng lòng căm thù Mỹ - Diệm, trưởng thành từ phong trào Đồng Khởi ở các địa phương rồi gia nhập Quân giải phóng. Lại có những cán bộ, chiến sĩ miền Bắc lần đầu đặt chân lên đất miền Đông. Nhưng tất cả những con người ấy đã đứng trong đội hình chiến đấu của Tiểu đoàn 1 và 2, tiếp đó là Trung đoàn 1, 2, 3 những đơn vị chủ lực đầu tiên, đã từ trong gian lao, anh dũng của miền Đông những năm đầu chống Mỹ mà trưởng thành và nay tập hợp thành một sức mạnh mới.

Cùng thời gian ra đời của Sư đoàn 9, nhiều sư đoàn bộ binh và binh chủng khác cũng được thành lập ở các chiến trường. Chiến trường miền Đông Nam Bộ có Sư đoàn bộ binh 5 và Đoàn pháo binh 69; chiến trường Tây Nguyên có Sư đoàn bộ binh 1. Quân khu 5 có hai Sư đoàn bộ binh 2 và 3. Như vậy bên cạnh lực lượng dự bị chiến lược gồm nhiều sư đoàn bộ binh và các quân chủng, binh chủng đứng trên miền Bắc, quân đội ta có ba khối chủ lực tổ chức đến cấp sư đoàn, nhiều trung đoàn bộ binh và binh chủng ở Tây Nguyên, Trung Bộ, miền Đông Nam Bộ. Khối chủ lực miền Đông Nam Bộ có hai sư đoàn bộ binh, Đoàn pháo binh, nhiều trung đoàn bộ binh và binh chủng độc lập. Lực lượng mới đã tạo ra thế trận mới bảo đảm cho quân và dân ta đứng vững trên các địa bàn chiến lược, giữ vững quyền chủ động tiến công trong cuộc chiến đấu quyết liệt với quân Mỹ, ngụy và chư hầu. Vào thời điểm này, lực lượng quân đội Mỹ xâm lược miền Nam đã lên tới 200.000 quân, gồm những sư đoàn thiện chiến, trang bị rất hiện đại và hàng trăm xe tăng, pháo lớn, máy bay, tàu chiến. Chúng còn tiếp tục tăng quân, đẩy mạnh ném bom, tàn phá hủy diệt và mở liên tiếp các cuộc hành quân “tìm diệt” bộ đội chủ lực Quân giải phóng.

Chiến tranh mở rộng và ngày càng ác liệt. Tiếng súng của chiến dịch Đồng Xoài vừa dứt, Sư đoàn 9 vừa ra đời đã cùng quân và dân toàn Miền bước vào những trận chiến đấu mới, với một đối tượng mới: quân viễn chinh Mỹ.

2. Những năm đầu đánh Mỹ và thắng Mỹ (1965-1967)

Trong những năm tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam, Mỹ đã đưa 30.000 cố vấn quân sự và các thiết bị kỹ thuật hiện đại để đảm nhiệm vai trò cố vấn chỉ huy, huấn luyện, kỹ thuật, yểm trợ hoả lực, hậu cần và tham chiến cùng quân ngụy. Nhưng lực lượng này cùng với hàng tỉ đô la viện trợ quân sự đã không cứu được quân ngụy khỏi nguy cơ sụp đổ, nhất là sau thất bại trong chiến dịch Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài.

Để cứu vãn tình thế, Mỹ buộc phải đưa các đơn vị  quân viễn chinh vào tham chiến ở chiến trường miền Nam, dùng không quân, hải quân gây cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Đội quân viễn chinh Mỹ và quân một số nước chư hầu của Mỹ tăng lên nhanh chóng, đến cuối năm 1965 có khoảng 200.000 quân.                 

Quân Mỹ vào làm thay đổi hẳn so sánh lực lượng trên chiến trường nhất là mật độ hỏa lực. Các loại máy bay, pháo hạng nặng, xe tăng, xe bọc thép tăng lên đột ngột. Chiến sự diễn biến sôi động và ngày càng ác liệt. Quân ngụy có chỗ dựa trực tiếp là đội quân viễn chinh Mỹ, tạm thời vượt qua nguy cơ sụp đổ. Chúng lui về giữ tuyến trong, làm nhiệm vụ giữ địa bàn và hỗ trợ kế hoạch “Bình định” nông thôn. Quân Mỹ là lực lượng cơ động, nhiệm vụ chính là mở các cuộc hành quân “tìm diệt” bộ đội chủ lực giải phóng.    

Sư đoàn vừa ra đời đã bước ngay vào cuộc chiến đấu với quân Mỹ, một đối tượng tác chiến mới, mạnh hơn hẳn quân ngụy. Có đánh được Mỹ không? Đánh bằng cách nào để thắng Mỹ? Đó là câu hỏi hết sức bức xúc, đặt ra với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn cũng như cán bộ lãnh đạo, chỉ huy ở khắp chiến trường. “Dám đánh Mỹ sẽ tìm ra cách đánh thắng quân Mỹ”, lời động viên của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chính ủy Miền đã phát triển thành truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” của quân đội ta trong tình hình mới, chỉ ra phương hướng công tác tư tưởng và cách hành động đúng đắn cho các đơn vị.   

Sau chiến thắng Đồng Xoài, khí thế chiến đấu và chiến thắng của quân và dân ta trên chiến trường miền Đông Nam Bộ lên rất cao. Trên đà thắng lợi và phát triển quyền chủ động tiến công địch, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền chủ trương mở chiến dịch tiến công địch ở khu vực Dầu Tiếng trong Đông Xuân 1965-1966 nhằm tiêu diệt một bộ phận quân chủ lực ngụy, hỗ trợ các lực lượng vũ trang, nhân dân Thủ Dầu Một và vùng Bắc Sài Gòn mở rộng vùng giải phóng. Trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến dịch, các đơn vị đều phải sẵn sàng phương án, nếu quân Mỹ chi viện sẽ kịp thời chuyển sang đánh Mỹ.  

Đầu tháng 10 năm 1965, trong khi đi chuẩn bị chiến trường, tổ trinh sát của đại đội 21 do đồng chí Lê Chiến Thắng chỉ huy và một số chiến sĩ thuộc đại đội 19 công binh (Trung đoàn 2) bất ngờ gặp quân Mỹ đang đi lùng sục ở khu vực Lai Khê. Với hai quả mìn định hướng và súng bộ binh, các chiến sĩ ta dũng cảm tiến công, làm thương vong một số tên rồi rút lui an toàn. Đây là trận diệt Mỹ đầu tiên của Sư đoàn.

Ngày 8 tháng 11 năm 1965, Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 1) dưới sự chỉ huy trực tiếp của Trung đoàn phó Bùi Thanh Vân đã vận động phục kích lữ đoàn 173 không vận Mỹ khi chúng đang hành quân càn quét ở Đất Cuốc trong khu vực Chiến khu Đ. Sau một ngày chiến đấu rất ác liệt, bộ đội ta đã đánh lui 13 đợt phản kích của địch. Kết thúc trận đánh, Tiểu đoàn 3 đã loại khỏi vòng chiến đấu một tiểu đoàn, đánh thiệt hại một tiểu đoàn khác của lữ đoàn 173 không vận Mỹ. Đây là trận diệt tiểu đoàn Mỹ đầu tiên trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Với chiến công này, Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 1) được tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng Nhì và được Bộ Tư lệnh Miền tặng lá cờ đơn vị dẫn đầu “diệt Mỹ, thắng Mỹ trên chiến trường miền Đông Nam Bộ”.           

Phát hiện chủ lực ta, Bộ chỉ huy quân Mỹ lập tức ra lệnh cho sư đoàn số 1 “Anh cả đỏ” mở cuộc hành quân “tìm diệt”. Ngày 10 tháng 11, lữ đoàn 3 sư đoàn 1 Mỹ xuất phát từ Lai Khê theo đường 13 hành quân lên hướng Dầu Tiếng. Đêm hôm đó, chúng đóng quân dã ngoại thành từng cụm bộ binh và cơ giới, tạo thế liên kết và hỗ trợ nhau ở tây bắc “ấp chiến lược” Bàu Bàng. Trong phương án chiến đấu, Bộ Chỉ huy Sư đoàn đã dự kiến tình huống quân Mỹ nống ra đường 13 hoặc đường 16, trận mở màn chiến dịch có thể là một trận tập kích hoặc phục kích quân Mỹ chứ không nhất thiết là trận tiến công quận lỵ Dầu Tiếng. Sáng ngày 11 tháng 11, trinh sát Sư đoàn và trinh sát Trung đoàn 2 đã phát hiện cuộc hành quân và đóng quân của địch. Quyết tâm ban đầu của Sư đoàn là sử dụng Trung đoàn 2 (thiếu 1 đại đội), được tăng cường Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 1), hai đại đội bộ binh của Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 3) và phần lớn hoả lực của Sư đoàn vận động tập kích cụm quân Mỹ ở bắc Bàu Bàng trong đêm. Nếu gặp khó khăn, động viên bộ đội đánh cả ban ngày để dứt điểm. Chiều tối hôm đó, phát hiện sơ hở trong thế bố trí của địch, Tư lệnh Sư đoàn Hoàng Cầm quyết định sử dụng lực lượng toàn Sư đoàn (thiếu hai tiểu đoàn của Trung đoàn 1 vừa đánh trận Đất Cuốc, chưa cơ động về kịp) tiêu diệt cả hai cụm quân địch, dù trời sáng cũng đánh. Nửa đêm hôm đó, Tư lệnh Sư đoàn giao nhiệm vụ và tổ chức hiệp đồng giữa các đơn vị. Do thời gian rất gấp, bộ đội phải chạy bộ. Có đơn vị giao nhiệm vụ cho các tổ, mũi ngay trên đường hành quân, tranh thủ lúc nghỉ và lợi dụng ánh trăng, dùng que vẽ sơ đồ ngay trên mặt đường xác định vị trí tập kết và hướng tiến công của từng mũi. Do thông tin liên lạc khó khăn, trong quá trình cơ động chiếm lĩnh trận địa, Trung đoàn 2 không nắm được đơn vị phối thuộc Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 1). Trong khi đó, Sư đoàn không liên lạc được với Trung đoàn 2 mà lại nắm được Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1. Theo phương án chiến đấu đã xác định và tin tưởng vào truyền thống “hiệp đồng theo tiếng súng” của các đơn vị, đúng 5 giờ 3 phút ngày 12 tháng 11, Tư lệnh Sư đoàn lệnh cho Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 1) Trần Nam Hùng nổ súng tiến công.

Nhận được lệnh, Tiểu đoàn trưởng Trần Nam Hùng lập tức tổ chức bộ đội trên các hướng xuất kích. Mũi đột phá nhanh chóng vượt qua tuyến cảnh giới của bộ binh địch ở phía ngoài, phát triển và sâu, diệt bộ binh và cơ giới ở tuyến trong. Mũi tiến công của Đại đội 2 đánh trúng sở chỉ huy địch, làm địch mất thông tin, rối loạn chỉ huy. Sau 30 phút, chúng mới tổ chức được hoả lực chống trả.

Nghe tiếng súng tiến công của đơn vị bạn, Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 2) do Tiểu đoàn trưởng Trần Ngọc Anh chỉ huy nhanh chóng vượt qua đường 13, chia cắt hai cụm quân địch ở phía bắc và phía nam ấp chiến lược Bàu Bàng. Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 2) do Tiểu đoàn trưởng Võ Văn Trắc chỉ huy vận động chia cắt các cụm cơ giới và cụm bộ binh địch, chia cắt địch ở Bàu Bàng với cụm quân địch ở Đồng Sổ. Trên tất cả các hướng, bộ đội ta đều thọc sâu, bám sát, tạo thế xen kẽ, đánh gần để hạn chế hoả lực không quân, pháo binh địch; chia cắt các cụm quân địch, không cho chúng dàn trận, phân tuyến, đánh theo cách của chúng. Quân Mỹ bị đẩy vào thế bị động, không phát huy được sức mạnh hoả lực, tổ chức hiệp đồng và cách đánh chính quy. Bị mất chỉ huy, không được hoả lực chi viện và trước sức tiến công dũng mãnh của đối phương, sĩ quan, binh lính Mỹ từ chủ quan trở nên hoang mang, chống trả yếu ớt. Trận vận động tập kích lữ đoàn 3, sư đoàn bộ binh số 1 “Anh cả đỏ” Mỹ ở Bàu Bàng kết thúc lúc 11 giờ ngày 12 tháng 11 năm 1965.

Cuộc hành quân “tìm diệt” đầu tiên của sư đoàn số 1 “Anh cả đỏ” Mỹ, cũng là một trong những cuộc hành quân tìm diệt đầu tiên của quân viễn chinh Mỹ từ khi chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” đã không thực hiện được mục tiêu mà còn tổn thất nặng. Hai tiểu đoàn bộ binh, hai chi đoàn thiết vận xa của lữ đoàn 3 bị đánh thiệt hại nặng; 2.040 tên Mỹ bị loại khỏi vòng chiến đấu, 39 xe tăng, bọc thép và 8 khẩu pháo bị phá huỷ.

Thắng lợi của trận đánh là kết quả của quá trình đấu tranh xây dựng quyết tâm đánh Mỹ, tạo được sự nhất trí rất cao từ Tư lệnh Sư đoàn đến chiến sĩ. Đây là kết quả tích lũy của quá trình giáo dục lòng yêu nước, căm thù giặc Mỹ xâm lược, quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc. Đồng thời là kết quả của sự phân tích khoa học, tìm ra chỗ mạnh, chỗ yếu của quân Mỹ, phát huy dân chủ về quân sự, phát động cán bộ, chiến sĩ hiến kế diệt Mỹ. Do thời gian chuẩn bị cho một trận tập kích thường rất gấp, chỉ có một quá trình xây dựng thường xuyên như vậy, đến trước trận đánh quán triệt thêm, bổ sung những yêu cầu mới thì mới có thể giành thắng lợi.

Lần đầu tiên Sư đoàn đánh đội hình cấp Sư đoàn, và cũng là lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, quân đội ta đánh tập trung quy mô cấp Sư đoàn. Qua trận đánh này, Sư đoàn tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm về tổ chức, chỉ huy chiến đấu, xây dựng tinh thần chủ động, tích cực tiến công tiêu diệt địch, phát huy cách đánh bất ngờ, thọc sâu, chia cắt, “bám thắt lưng địch mà diệt chúng” trong chiến thuật vận động tập kích quân địch lâm thời phòng ngự ban đêm. Sau trận đánh, quyết tâm đánh Mỹ và niềm tin thắng Mỹ lên rất cao trong các đơn vị. Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đều khẳng định: với quyết tâm cao, tinh thần tích cực, chủ động tiến công tiêu diệt địch và cách đánh thích hợp, Sư đoàn hoàn toàn có khả năng tiêu diệt các đơn vị lớn quân Mỹ - ngụy có cả cơ giới và phi pháo chi viện.

Với chiến thắng oanh liệt ở Bàu Bàng, trận đánh Mỹ thứ hai sau ngày thành lập, Sư đoàn được thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng Nhất. Cán bộ, chiến sĩ toàn Sư đoàn vô cùng phất khởi và tự tin: với tinh thần dám đánh và đánh thắng, chủ động tiến công và có cách đánh thích hợp, Sư đoàn hoàn toàn có khả năng đánh thắng quân viễn chinh Mỹ được trang bị hiện đại.

Ngày 21 tháng 11 năm 1965, nhận được tin trinh sát kỹ thuật báo, một đoàn xe địch đang hành quân từ Căm Xe về Dầu Tiếng, nhận lệnh của Bộ Tư lệnh Sư đoàn, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2 Nguyễn Văn Cương giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 4 tổ chức lực lượng, vận động phục kích đoàn xe địch. Tiểu đoàn trưởng Trương Văn Đàng cùng các đại đội trưởng nhanh chóng đi nghiên cứu địa hình, chọn khu vực phục kích, xây dựng phương án chiến đấu, giao nhiệm vụ cho từng đại đội và cử trinh sát về đón bộ đội. Bộ đội ta vừa chiếm lĩnh trận địa xong thì đoàn xe địch rầm rộ lao tới. Chờ chiếc xe đi đầu vào đúng tầm bắn, Tiểu đoàn trưởng Trương Văn Đàng lệnh cho Đại đội 1 nổ súng “chặn đầu”, Đại đội 2 nổ súng “khoá đuôi”, Đại đội 3 nổ súng chia cắt, diệt những xe đã lọt vào trận địa phục kích của tiểu đoàn. Kết thúc trận đánh, 20 xe địch bị diệt, hàng chục tên Mỹ bị loại khỏi vòng chiến đấu. Trong trận này nổi lên gương chiến đấu dũng cảm của Đại đội trưởng Tạ Quang Tỷ dẫn đầu bộ đội xung phong diệt những xe ở phía sau lên, khi súng hết đạn anh đã ném 50 quả lựu đạn và thủ pháo diệt xe địch. Sau trận chiến đấu, do Chính trị viên Đại đội 2 bị thương, Tạ Quang Tỷ còn ở lại, cùng một số cán bộ, chiến sĩ tìm, đưa hết thương binh, tử sĩ về phía sau. Khâm phục tinh thần chiến đấu dũng cảm và hết lòng vì đồng đội của Tạ Quang Tỷ, các chiến sĩ đã khen tặng anh danh hiệu thứ ba: “Đại đội trưởng khoá đuôi”, “còn thương binh tử sĩ, Tạ Quang Tỷ chưa về”. Như vậy, từ trận diệt chi đoàn thiết giáp địch trên đường số 2 trong chiến dịch Bình Giã, đến chiến dịch Đồng Xoài và trận vận động phục kích ở Căm Xe, Đại đội trưởng Tạ Quang Tỷ được đồng đội yêu mến, tặng ba danh hiệu: “Đại đội trưởng chặn đầu”; “Đại đội trưởng đột phá”ù; “Đại đội trưởng khoá đuôi” và thêm nữa là một lời khen về tinh thần đồng đội trong chiến đấu: “còn thương binh liệt sĩ, Tạ Quang Tỷ chưa về”.

Cũng trong ngày 21 tháng 11, Trung đoàn 3 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Võ Minh Như vận động tập kích cụm quân địch thuộc trung đoàn 7 sư đoàn 5 ngụy ở làng 10, khi chúng đang đi càn quét nhằm thăm dò lực lượng ta và hỗ trợ bọn bảo an, dân vệ giữ “ấp chiến lược” bảo vệ các đường giao thông huyết mạch. Kết quả, Trung đoàn 3 đã đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn bộ binh địch, phá hủy 26 xe quân sự (trong đó có 10 xe bọc thép M113).

Phát huy thắng lợi của Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3, đêm 26 rạng ngày 27 tháng 11, Trung đoàn 1 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Nguyễn Thế Truyện và Chính ủy Đặng Văn Thượng, toàn bộ lực lượng của trung đoàn đã tiến công dũng mãnh, thực hiện chia cắt, đánh gần, tiêu diệt từng cụm quân địch; sau đó trụ lại dưới hoả lực phi pháo ác liệt, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, diệt 2 tiểu đoàn 1 và 3, tiêu hao nặng tiểu đoàn 4 và toàn bộ chỉ huy trung đoàn 7, sư đoàn 5 ngụy, khi chúng đóng quân dã ngoại ở gần làng 32, 33. Trận này Trung đoàn 1 diệt và bắt 1.200 tên, trong đó có tên trung tá trung đoàn trưởng, thiếu tá trung đoàn phó và đại úy cố vấn Mỹ. Lần đầu tiên trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, một trung đoàn chủ lực ngụy bị một trung đoàn chủ lực Quân giải phóng tiêu diệt trong một trận chiến đấu.

Ngày 5 tháng 12 năm 1965, phát hiện hai tiểu đoàn thuộc sư đoàn bộ binh số 1 Mỹ ở khu vực Thị Tính - Nhà Mát đang phát triển về hướng Long Nguyên, Bến Cát. Trung đoàn 2 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Cương ở cách đó gần 5 ki-lô-mét đã nhanh chóng cắt rừng, vận động tiến công diệt địch. Với cách đánh kiên quyết, “bám thắt lưng địch mà đánh”, đánh gần, chia cắt đội hình địch thành cụm nhỏ để tiêu diệt. Trận đánh kéo dài từ 11 giờ 30 phút trưa đến 16 giờ chiều. Trung đoàn 2 đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn Mỹ (địch bỏ lại trận địa hàng chục xác), bộ đội ta thu được 40 khẩu súng các loại. Kể từ ngày được thành lập, đây là một trong những trận đánh Trung đoàn 2 thu được nhiều súng nhất. Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền tặng thưởng Trung đoàn 2 Huân chương Quân công giải phóng hạng Nhì.

Với thắng lợi diệt gọn một trung đoàn chủ lực ngụy trong một trận chiến đấu của Trung đoàn 1, cùng với những chiến công của Trung đoàn 2, Trung đoàn 3 và các đơn vị binh chủng đã làm giàu thêm bảng vàng thành tích chiến đấu, xây dựng nên truyền thống quyết chiến, quyết thắng, đánh thắng ngay từ trận đầu của Sư đoàn. Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền đã kịp thời chỉ đạo Sư đoàn tổng kết kinh nghiệm qua một tháng trực tiếp chiến đấu với quân viễn chinh Mỹ, biên soạn thành tài liệu: “Một số kinh nghiệm về chiến thuật của Mỹ và cách đánh Mỹ của chủ lực qua hoạt động của Sư đoàn 9”, để phổ biến cho các đơn vị trên toàn chiến trường.

Đầu năm 1966, thực hiện kế hoạch phản công gồm ba giai đoạn do tướng Oét-mo-len đề ra, quân Mỹ, ngụy và chư hầu huy động toàn bộ lực lượng mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất trên chiến trường miền Nam.

Cùng với các đơn bạn trên toàn chiến trường, Sư đoàn bước vào những trận chiến đấu mới, thi đua giành danh hiệu “đơn vị anh dũng diệt Mỹ” và “dũng sĩ diệt Mỹ”. Chỉ tiêu cụ thể cho từng danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ” là, cấp ưu tú: diệt 20 tên; cấp 1: 15 tên; cấp 2: 10 tên và cấp 3: 5 tên.

Về phía địch, với ưu thế hơn hẳn về hoả lực, ngay từ những tháng đầu năm 1966, mở đầu cuộc phản công chiến lược trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, Mỹ liên tục cho máy bay, kể cả máy bay chiến lược B52 đánh phá các căn cứ, các khu vực nghi ngờ là nơi tập kết lực lượng và kho tàng của ta.

Ngày 15 tháng 2 năm 1966, hai tiểu đoàn bộ binh thuộc lữ đoàn 1, sư đoàn số 1 “Anh cả đỏ” và chi đoàn cơ giới mở cuộc hành quân mang tên “Hòn đá lăn”, đánh phá Chiến khu Đ. Quân Mỹ đóng chốt ở sở cao su Nhà Đỏ trong khu tam giác Lai Khê - Phước Vĩnh - Tân Uyên, nằm giữa quốc lộ 13 và tỉnh lộ 16. Ban ngày chúng nống ra lùng sục các khu vực nghi ngờ có lực lượng chủ lực ta, ban đêm rút về đóng quân dã ngoại bên dòng suối Bông Trang. Trinh sát ta đã bám sát, phát hiện hành động của địch liên tục diễn ra theo quy luâït như vậy. Được Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền chấp thuận, Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Sư đoàn xây dựng phương án chiến đấu: Trung đoàn 1 đột phá hướng chủ yếu, từ đông bắc đánh xuống; Trung đoàn 3 đột phá hướng thứ yếu từ tây nam đánh lên; Trung đoàn 2 làm lực lượng dự bị. 1 giờ 10 phút đêm 23 rạng 24 tháng 2 năm 1966, từ các hướng bộ đội vận động tập kích tiêu diệt cụm quân địch đóng dã ngoại ở phía tây sở cao su Nhà Đỏ. Trận đánh kéo dài suốt 3 giờ, kết quả, ta đánh thiệt hại nặng cụm quân Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, phá huỷ 48 xe có nhiều xe tăng, xe bọc thép. Trận vận động phục kích cụm quân Mỹ đóng quân dã ngoại ở phía tây sở cao su Nhà Đỏ của Sư đoàn giành thắng lợi đã góp phần bẻ gãy một trong năm mũi tên “tìm diệt” của đế quốc Mỹ trong cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất.

Đầu tháng 3 năm 1966, ở khu vực bắc sông Bé, Trung đoàn 1 phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn quân Mỹ và một tiểu đoàn quân Ô-xtrây-li-a, đánh bại cuộc hành quân mang tên “Thành phố bạc” của địch.           

Phát huy thắng lợi và thế chủ động tiến công địch, ngày 5 tháng 3 năm 1966, Trung đoàn 2 vận động tập kích cụm quân Mỹ ở Bàu Bàng, gây thiệt hại nặng cho một tiểu đoàn thuộc sư đoàn bộ binh số 1 Mỹ. Đây là trận thứ ba của Trung đoàn 2 ở Bàu Bàng. Trung đoàn 2 được Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Sư đoàn đánh giá cao và đề nghị trên tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba.

Chủ động tiến công và liên tục phản công địch, trong mùa khô 1965-1966, Sư đoàn cùng với nhân dân miền Đông Nam Bộ đánh bại nhiều cuộc hành quân càn quét lớn của quân Mỹ, gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Ở miền Trung Trung Bộ, ba “mũi tên tìm diệt” của quân Mỹ- ngụy và chư hầu ở nam Quảng Ngãi, bắc Bình Định và Phú Yên cũng bị quân và dân ta bẽ gãy.

Cuối tháng 3 năm 1966, cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất của đế quốc Mỹ trên chiến trường miền Nam kết thúc. Với một lực lượng lớn quân viễn chinh (trên 20 vạn) và quân ngụy, trang bị vũ khí kỹ thuật hiện đại, Mỹ đã không thực hiện được các mục tiêu của cuộc phản công. Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn thú nhận: “Cuộc tiến công không làm hao tổn được Việt Cộng, không tiêu hao được một đơn vị chính quy lớn nào của Việt cộng, không ngăn chặn được du kích phát triển. Mỹ vẫn bị động, quân đội Sài Gòn giảm chất lượng nhanh chóng”.

Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhận định: “Ta đánh thắng hiệp đầu trong cuộc chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ. Ta đã thắng cả về quân sự và chính trị, chủ yếu là thắng về quân sự. Qua thực tiễn chiến đấu, chúng ta đã hiểu rõ chỗ mạnh, chỗ yếu của quân viễn chinh Mỹ, bước đầu rút ra những kinh nghiệm quý báu...”.

Đối với Sư đoàn, được Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền đánh giá “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ...Tuy mới thành lập nhưng bước đầu đã đánh lớn và thắng Mỹ, giúp cho chỉ đạo của trên nhiều kinh nghiệm để đúc kết phương châm, phương thức đánh Mỹ, đã vận dụng sáng tạo các hình thức tác chiến, nhất là vận động tập kích đã trở thành sở trường chiến đấu của Sư đoàn; xây dựng được tác phong cơ động, tổ chức chiến đấu nhanh, đánh gấp, hiệp đồng theo tiếng súng... kết quả đạt được là do đoàn kết nỗ lực và tinh thần sáng tạo của cán bộ chiến sĩ toàn Sư đoàn dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ”.

Đây là bước trưởng thành mới của Sư đoàn. Nhưng do chiến đấu liên tục, từ chiến dịch Bình Giã đến chiến dịch Đồng Xoài, đặc biệt căng thẳng ác liệt là từ khi quân Mỹ nhảy vào chiến trường, thời gian củng cố và huấn luyện của đơn vị rất ít, chủ yếu là huấn luyện theo nhiệm vụ trước mắt, không thực hiện được chương trình huấn luyện cơ bản, toàn diện. Thời gian huấn luyện thường phải xen kẽ trong một vài ngày giữa hai trận đánh. Cán bộ cơ sở, chiến sĩ cũ, có kinh nghiệm chiến đấu bị thương vong nhiều, quân bổ sung không đủ theo biên chế. Thành phần bổ sung từ nhiều nguồn, như cán bộ, chiến sĩ đã được huấn luyện chính quy trên miền Bắc, bộ đội địa phương, du kích, thanh niên tuyển tại chỗ... nên trình độ không đồng đều. Trong khi đó, do thời gian huấn luyện ngắn và không tập trung, cơ bản nên trình độ vận dụng kỹ thuật và sử dụng hoả lực của các phân đội chưa tốt. Trình độ tổ chức chỉ huy hiệp đồng và tác chiến của cán bộ chưa được chặt chẽ. Mặt khác, do phải liên tục cơ động và chiến đấu, trong khi Sư đoàn chưa tổ chức được trạm an dưỡng và cơ sở sản xuất nên việc đảm bảo sức khoẻ bộ đội, nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh, gặp nhiều khó khăn. Ngay cả thời gian ở căn cứ, các đơn vị vẫn thường xuyên phải di chuyển vì các cuộc hành quân càn quét và bom pháo địch. Sinh hoạt của bộ đội rất gian khổ. Nhiệm vụ chiến đấu căng thẳng, nhiều tổn thất hy sinh.

Trước hành động tăng quân, đẩy mạnh chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên cả hai miền Nam, Bắc, ngày 17 tháng 7 năm 1966, Chủ Tịch Hồ Chí Minh kêu gọi quân và dân cả nước “chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Ở chiến trường, đáp theo lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Đảng ủy Bộ Tư lệnh Sư đoàn đã lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ sinh hoạt chính trị, nêu cao tinh thần dám đánh và quyết đánh thắng trong bất kỳ tình huống nào, dù khó khăn gian khổ đến đâu cũng không mơ hồ, lùi bước, quyết chiến và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Sau đợt chiến đấu Đông Xuân 1965-1966, Sư đoàn đã được bổ sung quân số theo biên chế. Mỗi tiểu đoàn bộ binh có từ 350 đến 400 cán bộ, chiến sĩ, mỗi trung đoàn có từ 1.800 đến 2.000 người.

Về trang bị, được sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc, từ giữa năm 1966, các đơn vị trong Sư đoàn đã thống nhất trang bị súng bộ binh gồm các kiểu loại hiện đại (súng trường CKC, tiểu liên AK, trung liên RPĐ bắn cùng cỡ đạn). Mỗi đại đội được trang bị 4 khẩu chống tăng B40. Trong huấn luyện, cán bộ đại đội, tiểu đoàn đều có hai giáo án, một giáo án theo chương trình cơ bản, một giáo án dùng để bổ sung khi bộ đội tạm dừng, đã bố trí ăn, ở và đào công sự. Khoa mục tiểu đội, trung đội đánh công kiên, chiến sĩ được huấn luyện đánh bộc phá liên tục để mở cửa, chiếm đầu cầu và thọc sâu, đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu. Khoa mục trung đội, đại đội vận động tập kích, động tác tiếp cận, đột phá trận địa địch, biết lợi dụng địa hình, địa vật ở rừng cao su, rừng thưa, biết sử dụng nhiều loại hoả khí, phát triển tiến công, bao vây, vu hồi... Khoa mục tổ, tiểu đội đánh cơ giới, chiến sĩ được học đặc điểm, tính năng kỹ thuật xe tăng M41, xe bọc thép M113, tập động tác tiếp cận, diệt xe bằng súng B40, lựu đạn, thủ pháo; tập động tác hiệp đồng giữa hoả lực và xung lực, thực hiện chia cắt cơ giới địch thành từng tốp nhỏ, chia cắt bộ binh với cơ giới... Về kỹ thuật, cán bộ, chiến sĩ được bồi dưỡng nguyên tắc chiến thuật tập kích, đánh cơ giới và đánh công kiên.  Theo chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Sư đoàn, các trung đoàn thường xuyên tổ chức tổng kết, rút kinh nghiệm sau mỗi trận đánh, kiểm điểm công tác tổ chức và chỉ huy của cán bộ, kịp thời phê bình các sai sót, học tập tác phong chỉ huy kiên quyết, xử trí tình huống linh hoạt. Thực hiện mỗi cán bộ từ trung đoàn đến đại đội, trung đội đều chuẩn bị sẵn nhiều phương án như chủ động tiến công địch theo một kế hoạch đã dự kiến, cách xử lý tình huống địch dùng máy bay B52 hoặc cho bộ binh đánh vào căn cứ, vào nơi đóng quân dã ngoại, vận động phục kích cơ giới địch trên đường giao thông...

Đầu tháng 5 năm 1966, Trung đoàn 16 do các đồng chí Nguyễn Xuân Lực làm Trung đoàn trưởng; Nguyễn Duy làm Chính ủy; Tăng Đình Ngọan làm Phó chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị; Trần Tam làm Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng được Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền điều tăng cường cho Sư đoàn 9. Trung đoàn 16 nguyên là Trung đoàn 101A được thành lập trong Cách mạng tháng 8 năm 1945 trên chiến trường Bình Trị Thiên mà tiền thân là Chi đội Cao Vân được thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1945 tại Măng Cá (Huế), do đồng chí Hà Văn Lâu làm Trung đoàn trưởng. Trong kháng chiến chống Pháp trung đoàn đã chiến đấu hàng trăm trận, diệt hàng ngàn tên địch, trở thành trung đoàn lừng danh trên chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa, được Bác Hồ tặng cờ “Quyết chiến - Quyết thắng”. Từ cuối năm 1954 đến năm 1964, trung đoàn là đơn vị chủ công của Sư đoàn 325 và Quân khu 4, bảy năm liên tục trung đoàn được Bác Hồ tặng cờ thưởng luân lưu. Ngày 23 tháng 10 năm 1964, toàn bộ lực lượng của trung đoàn do các đồng chí Nguyễn Mót, Trung đoàn trưởng (vào đến chiến trường Tây Nguyên đồng chí Đào Huy Thừa lên làm Trung đoàn trưởng); Nguyễn Duy Chính ủy; Nguyễn Xuân Lực, Tham mưu trưởng; Tăng Đình Ngoạn, Chủ nhiệm chính trị chỉ huy hành quân vào miền Nam chiến đấu. Để giữ bí mật trên đường hành quân, trung đoàn mang mật danh “Trung - Dũng - Kiên - Cường”. Tại chiến trường Tây Nguyên từ tháng 1 đến tháng 9 năm 1965, trung đoàn đã chiến đấu kiên cường lập nên những chiến công hiển hách ở Đắc Tô, Đắc Xút, Tu-mơ-rông… trong đó, nổi bật là trận đánh diệt gọn tiểu đoàn “cọp đen” thuộc sư đoàn 25 ngụy trên núi Ngọc Cơn của Tiểu đoàn 7 và 9; trong trận Tu-mơ-rông, trung đoàn đã tiến công tiêu diệt gọn tiểu đoàn biệt kích, phá hủy 18 xe quân sự, 1 kho đạn, thu 2 khẩu pháo 105 mm và 164 súng các loại; trận tiến công tiêu diệt 400 tên ngụy, làm chủ chi khu Đắc Tô. Đặc biệt, trận tiến công chi khu Đắc Xút, một chi khu được địch tổ chức phòng thủ kiên cố, với 14 đồn, bốt, tháp canh, 2 tiểu đoàn ngụy chính quy, 1 đại đội biệt kích, bảo an và có 13 cố vấn Mỹ chỉ huy. Nhưng với cách đánh hiệp đồng chặt chẽ, tiến công liên tục, đánh từ ngoài vào, đánh từ trong ra, sau hơn 5 tiếng đồng hồ trung đoàn đã hoàn toàn làm chủ chi khu Đắc Xút, diệt 313 tên, bắt 211 tên, thu 215 súng các loại, 2 khẩu pháo 105 mm, bắn cháy 7 máy bay trực thăng. Với chiến thắng Đắc Tô, Đắc Xút trung đoàn được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì. Trong chiến đấu nổi lên nhiều cá nhân dũng cảm như Lương Ngọc Đối khi súng hết đạn anh đã vật lộn và dùng răng cắt chết 1 tên địch; Nguyễn Đức Nghĩa dũng cảm xung phong đưa bộc phá đánh lô cốt địch cho đồng đội xung phong trong trận Đắc Tô… Tháng 9 năm 1965, trung đoàn tiếp tục nhận nhiệm vụ hành quân vào chiến trường miền Đông Nam Bộ. Đây là chặng đường hành quân đầy khó khăn, gian khổ. Đường xa mang vác nặng, lại liên tục bị máy bay địch chặn đánh, vì vậy thời gian hành quân kéo dài, lương thực, thực phẩm cạn kiệt, bộ đội phải ăn củ mì, rau rừng thay cơm. Nhưng với tinh thần “Quyết chiến - Quyết thắng”, gặp địch thì đánh địch mà đi, nhất là truyền thống thương yêu, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau, đầu tháng 4 năm 1966, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn đã có mặt tại chiến trường Khu 6. Ngay sau khi dừng chân tại Khu 6, trung đoàn đã tập trung củng cố tổ chức, ổn định quân số và bước vào chiến đấu ngay. Cuối tháng 4 năm 1966, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Nguyễn Xuân Lực và Chính ủy Nguyễn Duy, trung đoàn đã tiến công tiêu diệt đồn Tuy Đức, đánh thiệt hại nặng đồn Bu Bơ Răng, được nhân dân địa phương ca ngợi. Những ngày sau đó trung đoàn còn tham gia nhiệm vụ vận chuyển lương thực, vũ khí cho đến khi được lệnh tăng cường cho Sư đoàn 9.                                                                                                                                                                                                                                           

Mùa mưa năm 1966, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền giao nhiệm vụ cho Sư đoàn mở đợt hoạt động ở khu vực Bình Long, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, cùng với lực lượng vũ trang địa phương phát triển chiến tranh du kích, mở rộng vùng giải phóng. Quá trình chuẩn bị, phát hiện địch đã tăng quân, tổ chức phòng ngự thành từng cụm lớn, Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định thay đổi phương châm hoạt động và cách đánh, chủ yếu là dùng lực lượng nhỏ phục kích đánh giao thông, tập kích địch đóng quân dã ngoại, pháo kích vị trí đóng quân của địch...                

Theo phương án chiến đấu mới, Sư đoàn trưởng Hoàng Cầm giao nhiệm vụ cho các trung đoàn tích cực chủ động đánh những trận nhỏ, lẻ để kéo địch từ vị trí đóng quân ra.

Chiều ngày 27 tháng 6, trinh sát kỹ thuật của Miền báo cho Bộ Tư lệnh Sư đoàn, một đoàn xe cơ giới đang chuẩn bị xuất phát từ Hớn Quản lên đón quân Mỹ từ Lộc Ninh rút về theo đường 13. Bộ Tư lệnh Sư đoàn hội ý chớp nhoáng nhận định tình hình và lệnh cho Trung đoàn 1 tạm dừng kế hoạch đánh Lộc Ninh, khẩn trương chuyển sang vận động phục kích đoàn xe cơ giới địch. Mọi công tác chuẩn bị chiến đấu phải hoàn thành trước 5 giờ sáng ngày 28 tháng 6. Để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ, Sư đoàn tăng cường cho Trung đoàn 1 hai đại đội súng máy phòng không (6 khẩu), một đại đội súng cối 82 (6 khẩu) và ba khẩu ĐKZ 75. Sau khi trinh sát nghiên cứu trên thực địa trong đêm 27 tháng 6, đồng chí Bùi Thanh Vân, Trung đoàn trưởng báo cáo Đảng ủy - Ban Chỉ huy Trung đoàn 1 quyết định bố trí trận địa phục kích ở trảng Ba Nghì, cách Lộc Ninh hơn 7 ki-lô-mét và cách cầu Cần Lê 2 ki-lô-mét. Đây là khu vực rừng thưa, phần lớn là cây dầu mọc xen với le, từ vị trí tập kết đến khu chiếm lĩnh phải vượt qua ba con suối nên khó giấu quân và cơ động. Nhưng nếu ngụy trang và tổ chức công sự tốt, xuất kích đúng lúc, ta sẽ chiếm được thế cao, bất ngờ. Địch đi dưới thấp, phơi lưng trên trảng trống dài hơn 3 ki-lô-mét. Đêm 29 tháng 6, toàn trung đoàn chiếm lĩnh trận địa, cách đường gần 200 mét. Sáng ngày 30 tháng 6, một đoàn xe từ Hớn Quản tiến về hướng Lộc Ninh. Chờ cho xe địch đã lọt vào giữa trận địa, Trung đoàn trưởng Bùi Thanh Vân lệnh cho các mũi xuất kích xung phong. Bị đánh chặn đầu, khoá đuôi và chia cắt giữa đội hình nhiều xe địch bị phá hủy, những xe còn lại của địch cụm vào nhau, dùng hoả lực chống trả. Địch gọi máy bay phản lực đến ném bom, dùng máy bay lên thẳng đổ thêm quân xuống phía tây và tây nam trảng Ba Nghì, tạo bàn đạp phản kích hòng đẩy lùi bộ đội ta. Nhưng với tinh thần chiến đấu kiên cường, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 1 vừa củng cố công sự, vừa tiếp tục diệt cơ giới địch và đánh bộ binh địch phản công; đồng thời luồn ra phía sau chiếm ngã ba đường, không cho địch tháo chạy. Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt cho tới 19 giờ tối tiếng súng mới ngừng hẳn. 43 xe quân sự, phần lớn là xe tăng M41 và xe bọc thép M113 (trong tổng số 46 chiếc) bị phá hủy. Trên 300 tên Mỹ thuộc sư đoàn bộ binh số 1 bị loại khỏi vòng chiến đấu. Đường 13, Cần Đâm, trảng Ba Nghì trở thành mồ chôn xe cơ giới Mỹ. Với chiến công xuất sắc ở trảng Ba Nghì, ngày 30 tháng 6 năm 1966, Trung đoàn 1 được Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng Nhì.

Ngày 25 tháng 6 năm 1966, Trung đoàn 2 tổ chức đánh đoàn xe cơ giới thuộc sư đoàn bộ binh số 1 Mỹ hành quân theo đường 13 từ hướng Chơn Thành lên Bình Long, trận địa phục kích là đoạn đường dài hơn 3 ki-lô-mét từ ngã tư Cây Đa đến cầu Cần Đâm. Sau 21 ngày đêm kiên trì ém quân chờ địch, mỗi ngày cán bộ, chiến sĩ chỉ ăn ba nắm cơm, có bữa thức ăn có một dúm muối, nhưng không một ai nao núng tinh thần. Vừa sẵn sàng xuất kích, vừa tranh thủ ôn luyện kỹ thuật, chiến thuật, củng cố công sự và diễn tập xuất kích. Trưa ngày 8 tháng 6, khi đoàn xe cơ giới của địch đã vào đúng trận địa, Trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Cương ra lệnh toàn đơn vị xuất kích. Do địch co cụm chống trả quyết liệt, trận đánh kéo dài đến 18 giờ, sau gần 4 giờ chiến đấu ác liệt. Kết quả trận đánh của Trung đoàn 2, bắn rơi và bắn cháy 8 máy bay, 40 xe địch bị phá hỏng (có 12 xe tăng M41, 19 xe bọc thép M113), hàng trăm lính Mỹ, 200 lính ngụy bị loại khỏi vòng chiến đấu, bộ đội ta thu nhiều súng đạn và đồ dùng quân sự.  

Bị đánh đau liền hai trận trong tháng 6, quân Mỹ - ngụy vẫn không bỏ đường 13, con đường tiếp tế chính cho Bình Long, Lộc Ninh. Nhưng bị ta uy hiếp mạnh chúng phải đưa thêm lực lượng lên củng cố khu tam giác Hớn Quản - Chơn Thành - Minh Hoà bảo vệ tuyến phòng thủ bắc Sài Gòn. Mặt khác phòng ngừa ta phục kích, địch cho quân tăng cường tuần tra, đưa tin đánh lạc hướng, thay đổi quy luật hành quân, cho không quân, pháo binh đánh phá huỷ diệt các vạt rừng hai bên đường. Địch còn tìm ra những con đường mới nhằm tránh những đoạn “nguy hiểm” dễ bị ta phục kích trên đường 13, một trong những con đường đó là đoạn đường đá đỏ từ Hớn Quản lên Minh Hoà. Đây là đường độc đạo, nằm giữa đường 13 và sông Sài Gòn nên việc che giấu lực lượng và vận động phục kích của ta gặp khó khăn. Song nếu giữ bí mật, tận dụng tốt địa hình và đào được công sự tránh phi pháo, xuất kích đúng lúc, ta có thể dồn địch vào thế bất lợi để tiêu diệt.       

Sau khi được Bộ Tư lệnh Sư đoàn phổ biến tình hình, quy luật hoạt động của địch và giao nhiệm vụ chiến đấu; ngày 28 tháng 6 năm 1966,  Trung đoàn 2 tổ chức trận địa phục kích quân Mỹ trên đường 13, đoạn từ Cần Đâm đến Tàu Ô. Sau khi nghiên cứu kỹ địa hình và phân tích tình hình địch, Ban chỉ huy Trung đoàn 2 quyết định chia lực lượng đi hai hướng. Hướng thứ yếu: Tiểu đoàn 6 tổ chức phục kích đoạn Cần Đâm - Tàu Ô trên đường 13. Hướng chủ yếu: hai Tiểu đoàn 4, 5 và Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 16) cùng toàn bộ hoả lực của trung đoàn, tổ chức trận địa phục kích dài 2 ki-lô-mét đoạn từ Xa Cát đến Minh Hoà. Tiểu đoàn 5 làm nhiệm vụ chặn đầu, Tiểu đoàn 4 cử một bộ phận khoá đuôi và cùng Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 16) đánh chính diện. Sau hơn một tuần kiên trì mai phục, đúng 10 giờ 12 phút ngày 8 tháng 7, đoàn xe địch tiến đến trận địa phục kích của trung đoàn, được lệnh của Trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Cương các mũi phục kích nổ súng xung phong. Đại đội 8 Tiểu đoàn 5 làm nhiệm vụ chặn đầu, nổ súng diệt một xe M113. Các mũi xung kích xông lên mặt đường chia cắt không cho địch cụm lại. Hướng chính diện, Tiểu đoàn 4 phối hợp cùng Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 16) cho bộ đội xung phong. Đại đội 6 Tiểu đoàn 4 làm nhiệm vụ khoá đuôi. Với cách đánh kiên quyết chia cắt không cho quân địch co cụm, phát huy tốt hoả lực B40, B41, ĐKZ. Sau gần hai giờ chiến đấu, bộ đội ta diệt 30 xe M113, 5 xe tăng M41, bắn rơi 8 máy bay các loại. Tuy nhiên, do tổ chức lui quân không tốt, đồng thời do trận đánh kéo dài, mật độ bom, pháo địch rất ác liệt, trung đoàn bị thương vong lớn: 128 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, 167 bị thương. Trong trận chiến đấu, nổi lên nhiều gương chiến đấu dũng cảm như Trung đội trưởng Nguyễn Hữu Chỉnh từng bị thương (mất mấy ngón tay) trong chiến dịch Bình Giã, sau khi điều trị, anh xin trở về đơn vị tiếp tục chiến đấu. Từ chỗ chỉ ném được lựu đạn, nhờ kiên trì rèn luyện, anh đã bắn được súng. Trận này anh bị thương gãy hai chân. Sau khi giao quyền chỉ huy cho trung đội phó, anh nén đau, dùng khuỷu tay lết tới lấy được khẩu B40 của một chiến sĩ đã hy sinh rồi tiếp tục lết tới ven đường, bắn cháy 1 xe tăng M41, do vết thương quá nặng, Nguyễn Hữu Chỉnh đã anh dũng hy sinh. Ở Đại đội 6 Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 16) chiến sĩ Nguyễn Văn Hướng chiến đấu dũng cảm diệt liền 3 xe tăng địch; đặc biệt chiến sĩ Lê Hoà Tiêu bị thương dập nát cánh tay vẫn cầm thủ pháo đuổi theo xe tăng địch. Lê Hòa Tiêu trở thành “La Văn Cầu của miền Nam”. Tiểu đội phó Nguyễn Văn Thảng và Nguyễn Minh Chữ ở Đại đội 8 Tiểu đoàn 5, khi bị thương nặng đã tự băng bó vết thương cho nhau rồi tự dìu nhau về đơn vị. Biết mình không sống được vì vết thương quá nặng, Nguyễn Văn Thảng đã kiên quyết nhường thuốc để cứu chữa cho đồng đội.

Với chiến công xuất sắc trong trận vận động phục kích đoàn xe địch ở Xa Cát, ngày 9 tháng 7 năm 1966, Trung đoàn 2 được Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba. Chiến sĩ Lê Hòa Tiêu và Nguyễn Văn Hướng (Trung đoàn 16) được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba.

3. Tham gia đánh thắng các cuộc hành quân “tìm diệt” của Mỹ - ngụy mùa khô 1966-1967

Sau đợt hoạt động mùa mưa 1966, Sư đoàn di chuyển về Chiến khu Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh để củng cố, bổ sung quân số, trang bị, chuẩn bị phương án chiến đấu mới, huấn luyện quân sự, học tập chính trị chuẩn bị cho nhiệm vụ chiến đấu mùa khô 1966-1967.

Trong thời gian hơn hai tháng, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã được học tập, nâng cao nhận thức về tình hình nhiệm vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, củng cố thêm quyết tâm đánh Mỹ. Các đơn vị đều được bổ sung quân số và vũ khí trang bị. Tổng kết kinh nghiệm qua một năm đánh Mỹ, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Sư đoàn tranh thủ mở nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng cán bộ về kỹ thuật, chiến thuật; đồng thời chỉ đạo các đơn vị huấn luyện bộ đội các môn kỹ thuật bắn súng, ném lựu đạn, đánh bộc phá, đâm lê và các động tác chiến thuật trong chiến đấu tập kích, phục kích.

Tháng 10 năm 1966, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền giao nhiệm vụ cho Sư đoàn phối hợp với quân và dân tỉnh Tây Ninh đẩy mạnh hoạt động ở hướng tây bắc Sài Gòn, giữ thế chủ động tiến công địch khi bước vào mùa khô 1966-1967; đồng thời tích cực chuẩn bị phản công địch nếu chúng đánh lớn vào căn cứ. Phương châm hoạt động là đánh nhỏ, đánh vừa, quy mô tiểu đoàn, trung đoàn là chính, hỗ trợ lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương diệt đồn bót, phá "ấp chiến lược”, bảo vệ căn cứ, giữ vững vùng giải phóng.

Trong khi đó, với số quân Mỹ tăng gấp hai lần (400.000 tên), số máy bay, xe tăng, xe bọc thép, đại bác nhiều gấp ba lần so với cuối năm 1965, Mỹ, ngụy gấp rút chuẩn bị mở cuộc phản công chiến lược lần thứ hai trên chiến trường miền Nam trong mùa khô 1966-1967. Ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, mục tiêu hàng đầu của Mỹ - ngụy trong cuộc phản công lần này là đánh phá căn cứ cơ quan đầu não của Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, tiêu diệt các đơn vị chủ lực Quân giải phóng. Đầu tháng 11 năm 1966, sau một số cuộc hành quân càn quét nhằm củng cố các tuyến phòng thủ xung quanh Sài Gòn, chuẩn bị bàn đạp tiến công và thăm dò lực lượng ta, đế quốc Mỹ mở cuộc hành quân lớn mang tên Át-tơn-bo-rơ đánh phá căn cứ Dương Minh Châu. Cùng với các đơn vị bạn Sư đoàn đã tổ chức đánh một số trận. Ngày 19 tháng 11, Trung đoàn 1 tổ chức đánh địch càn quét ở khu vực Khe Du, loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên Mỹ, phá hủy 8 xe M113. Ngày 25 tháng 11, Trung đoàn 2 vận động tập kích cụm quân Mỹ ở Dầu Tiếng, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, phá hủy 5 máy bay lên thẳng, 2 khẩu pháo 105, thiêu huỷ 12.000 lít xăng. Tiếp những ngày sau đó, các đơn vị của Sư đoàn phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích tỉnh Tây Ninh, đặc biệt là dân quân du kích các huyện Trảng Bàng, Gò Dầu, Dương Minh Châu đẩy mạnh hoạt động diệt ác ôn, phá “ấp chiến lược”, đánh giao thông trên đuờng số 1, đường 22 làm cho quân Mỹ càng lúng túng trong cách đối phó. Đêm ngày 21 tháng 11, Trung đoàn 1 tổ chức tập kích bằng hoả lực vào cụm quân Mỹ đóng dã ngoại ở Tà Đạt, làm thương vong hơn 100 tên, góp phần đánh bại cuộc hành quân Át-tơn-bo-rơ của Mỹ và ngụy Sài Gòn.

Ngày 8 tháng 1 năm 1967, địch huy động trên 30.000 quân, gồm 3 lữ đoàn Mỹ, 3 chiến đoàn ngụy mở cuộc hành quân Xê-đa-phôn càn quét vùng “tam giác sắt” Củ Chi - Bến Cát - Bến Súc nhằm nới rộng “vành đai an ninh”, đẩy chủ lực ta ra xa, tìm diệt cơ quan lãnh đạo Sài Gòn - Gia Định. Cuộc càn này đã bị quân và dân Củ Chi đất thép, phối hợp cùng với Trung đoàn 2 dựa vào ấp, xã chiến đấu, hệ thống địa đạo, đánh trả quyết liệt tiêu diệt hàng trăm tên Mỹ, ngụy, phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh, làm thất bại các mục tiêu của địch trong cuộc hành quân quy mô lớn.

Sau hai cuộc hành quân tìm diệt không có kết quả mà còn bị tổn thất nặng, đầu tháng 2 năm 1967, Bộ chỉ huy quân Mỹ quyết định tập trung binh lực, hoả lực lớn hơn nữa, mở cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty đánh thẳng vào căn cứ Dương Minh Châu, quyết triệt phá cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt các sư đoàn chủ lực Miền, giành thắng lợi quyết định trong cuộc phản công chiến lược lần thứ hai. Lực lượng huy động vào cuộc hành quân lên tới 45.000 quân Mỹ, gồm 26 tiểu đoàn bộ binh (9 trong số 11 lữ đoàn Mỹ ở vùng 3 chiến thuật), 8 tiểu đoàn tăng thiết giáp (1.300 xe), 120 lần chiếc máy bay yểm trợ hoả lực mỗi ngày. Quân ngụy có 2 tiểu đoàn thủy quân lục chiến, 1 tiểu đoàn biệt động quân, 12 đại đội biệt kích. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ, đây là cuộc hành quân trên bộ lớn nhất, huy động nhiều binh khí kỹ thuật nhất và được chuẩn bị công phu nhất.

Để đối phó với cuộc hành quân lớn của địch, Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền chủ trương động viên mọi lực lượng trong khu vực căn cứ, trước mắt nhanh chóng củng cố tổ chức, bổ sung súng đạn cho “du kích” cơ quan và các phân đội bảo vệ, bảo đảm cho các lực lượng này có đủ khả năng bám trụ đánh địch tại chỗ, tạo điều kiện và thời cơ cho bộ đội chủ lực cơ động đánh tập trung, tiêu diệt từng bộ phận quân địch.

Đầu tháng 2 năm 1967, Đảng uỷ Sư đoàn họp ra nghị quyết lãnh đạo cán bộ, đảng viên, chiến sĩ toàn Sư đoàn phát huy kinh nghiệm đánh Mỹ mùa khô 1965-1966, nêu cao tinh thần dám đánh và quyết thắng Mỹ, nắm vững chức năng của một Sư đoàn chủ lực cơ động và tư tưởng chỉ đạo tác chiến của Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền là kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa tạo điều kiện và nắm thời cơ đánh những trận tiêu diệt lớn, diệt từng cụm quân địch. Mạnh bạo hơn nhưng chắc thắng, bảo đảm đánh liên tục, dài ngày. Với tinh thần nghị quyết của Đảng ủy Sư đoàn, các đơn vị đã kịp thời tổ chức quán triệt một cách sâu sắc và tỷ mỉ tới từng cán bộ, chiến sĩ, xây dựng quyết tâm bước vào trận chiến đấu với tư thế tự tin và chiến thắng.

Ngay từ ngày đầu được tiến hành cuộc càn (ngày 22 tháng 2 năm 1967), lực lượng của Sư đoàn đã đụng đầu với một lực lượng địch đông gấp bội, lại được sự chi viện đắc lực của không quân, pháo binh và xe tăng. Song cán bộ, chiến sĩ các đơn vị trong Sư đoàn đã hiệp đồng chặt chẽ với du kích, cơ quan của “R”, bám thắt lưng địch mà đánh. Với lối đánh vừa và nhỏ ở khắp mọi nơi, trên mọi địa hình một cách rất linh hoạt và hiệu quả, ta đã loại khỏi chiến đấu gần 600 tên địch, phá huỷ 28 xe tăng và xe thiết giáp. Đặc biệt Đại đội 7 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 1 đã anh dũng chiến đấu diệt gọn một đại đội Mỹ, đánh thiệt hại nặng một đại đội khác ở trảng Bà Điết, Xóm Rẫy, loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên, phá huỷ 8 xe quân sự, bắn rơi tại chỗ 1 máy bay trực thăng. Bằng phương pháp tích cực, chủ động bám đánh địch, các đơn vị của Sư đoàn góp phần cùng lực lượng vũ trang và nhân dân toàn khu vực căn cứ căng kéo, kìm chân, đẩy quân địch vào thế co cụm bị động đối phó, tạo điều kiện cho Trung đoàn 2 tập kích tiêu diệt cụm quân Mỹ ở trảng A Lấn, loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên. Trung đoàn 16 tập kích cụm cơ giới Mỹ ở gần cầu suối Ông Hùng cũng gây cho chúng nhiều thiệt hại. Những đơn vị sừng sỏ nhất, thiện chiến nhất của Mỹ cũng không thoát khỏi tình trạng ban ngày bị chặn đánh, ban đêm bị tập kích bằng hoả lực, thương vong, bệnh tật ngày càng nhiều, tinh thần chiến đấu của lính Mỹ giảm sút rõ rệt. Sau 8 ngày (từ 22 đến 30 tháng 2) quân địch không giành được một thắng lợi theo ý định. Từ ngày 1 đến 13 tháng 3, địch bắt đầu phải co lực lượng về chốt giữ trục đường 22 tìm cách đánh mới.

Ngày 9 tháng 3 năm 1967, Trung đoàn 2 được Bộ Tư lệnh Sư đoàn giao nhiệm vụ vận động tập kích cụm quân Mỹ ở Đồng Pan. Trên đường trở về trung đoàn sau khi nhận nhiệm vụ, Trung đoàn trưởng Trần Xoa bị địch phục kích, hy sinh. Việc triển khai nhiệm vụ chiến đấu chậm và gặp một số khó khăn, trong khi đó Tiểu đoàn 5 còn đang hoạt động ở hướng khác. Với quyết tâm cao, đêm 10 tháng 3, Chính uỷ Nguyễn Tấn Dành và Trung đoàn phó Trương Văn Đàng  trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 4 được tăng cường Đại đội 12 Tiểu đoàn 6, cùng pháo mang vác của trung đoàn và cối 120 của Đoàn pháo binh 80 Miền vận động tập kích cụm quân Mỹ ở Đồng Pan. Kết quả, ta loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, phá huỷ 12 khẩu pháo, 150 xe quân sự. Với chiến công ở Đồng Pan, Trung đoàn 2 được Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba.

Cũng trong đêm 10 tháng 3, Trung đoàn 16 pháo kích và vận động tập kích cụm quân Mỹ ở bắc Bàu Cỏ, loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên Mỹ, phá hủy 9 khẩu pháo, 64 xe quân sự (có 24 xe tăng, xe bọc thép).

Những ngày sau đó, các Trung đoàn 1, 2, 16 liên tục vận động tập kích, phục kích và pháo kích các cụm quân Mỹ ở Trảng A Lấn, Tà Xia, phía tây đường 22... gây cho địch nhiều tổn thất, phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Đây là những trận đánh cuối cùng của Sư đoàn trong đợt 1 chiến dịch phản công bắc Tây Ninh.

Ra quân hùng hổ mà không thực hiện được mục tiêu, Bộ chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam cách chức tướng Si Man chỉ huy cuộc hành quân và dùng máy bay lên thẳng bốc quân rút khỏi Cà Tum, Bổ Túc và một số cụm ở phía bắc tỉnh Tây Ninh. Trên khu vực chiến dịch chỉ còn lữ đoàn 196 bộ binh nhẹ chốt tại Đồng Pan, Bàu Cỏ và trên trục đường 4. Đợt một cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty của địch kết thúc.

Phân tích âm mưu và hành động của địch sau đợt một, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền nhận thấy, địch đã bị thua đau, không thực hiện được ý định, nhưng chúng còn lực lượng và tham vọng. Những ngày tới, có thể chúng sẽ tiếp tục càn khu vực đông sông Tha La đến tây sông Sài Gòn, từ bắc liên tỉnh lộ 13 đến biên giới (đông bắc tỉnh Tây Ninh). Lực lượng hành quân như đợt một, riêng xe tăng có thể ít hơn và chúng sẽ phải thay đổi cách đánh. Về phía ta, trong đợt một, du kích các cơ quan đánh tốt. Bộ đội chủ lực Sư đoàn 9 đánh được một số trận, nhưng do chưa quán triệt đầy đủ quyết tâm và phương châm chỉ đạo tác chiến nên đã bỏ lỡ nhiều cơ hội tiêu diệt địch.

Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền quyết định, động viên cao nhất sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, điều chỉnh lại thế bố trí, chỉ đạo các đơn vị rút kinh nghiệm chống càn đợt một. Nếu địch tiếp tục hành quân đợt 2, sẽ tập trung lực lượng chủ lực đánh cho được một, hai trận tiêu diệt tương đối lớn, diệt cụm tiểu đoàn hoặc chiến đoàn địch; đồng thời nhanh chóng tăng cường trang bị nhất là mìn ĐH10 và súng chống tăng B40, bổ sung phương án chống càn cho du kích, chỉ đạo lực lượng này bám đánh, tiêu hao, tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, phối hợp với toàn chiến trường đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty và cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của đế quốc Mỹ.   

Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn đã kịp thời tổ chức rút kinh nghiệm, kiểm điểm sâu sắc ưu điểm, khuyết điểm trong đợt một, phê phán tư tưởng ngại xe tăng, ngại hỏa lực phi pháo, muốn phân tán, đánh nhỏ, khẳng định vai trò chủ lực, của tác chiến tập trung, hiệp đồng, đánh tiêu hao quân Mỹ. Dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn, các đơn vị khẩn trương củng cố, bổ sung quân số, trang bị, sẵn sàng bước vào đợt chiến đấu mới trên hướng chính của chiến lược phản công.

Ngày 18 tháng 3 năm 1967, Mỹ tiếp tục đợt hai cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty. Chúng chia lực lượng thành hai cánh, càn quét khu vực đông bắc tỉnh Tây Ninh. Rút kinh nghiệm đợt một, quân Mỹ tập trung từng cụm lớn có cả bộ binh, xe tăng, pháo binh nhằm đề phòng ta tập kích và từ đó đánh toả ra xung quanh, vừa thăm dò lực lượng ta, vừa đánh phá, vừa thọc sâu vào căn cứ ta, vừa giữ vị trí bàn đạp. Nhưng chúng tỏ ra dè dặt, thận trọng hơn.

Nhưng cũng như đợt một, quân Mỹ đã bị chặn đánh trên tất cả các hướng ngay trong ngày đầu hành quân. Du kích cơ quan hậu cần Miền diệt 5 xe bọc thép trên đoạn đường từ suối Ngô đi Lộc Ninh. Ở Đồng Rùm, Mỹ đổ quân đúng bãi mìn Đoàn 82 Hậu cần bố trí trước, 8 máy bay lên thẳng nổ tung, nhiều lính Mỹ chết và bị thương. Trên đường 13, Trung đoàn 3 tập kích cụm quân Mỹ thuộc lữ đoàn 1, sư đoàn bộ binh số 9, khi chúng đang triển khai đội hình hành quân ở khu vực Bàu Bàng, diệt gần 400 tên, phá huỷ 96 xe quân sự và 9 khẩu pháo.

Ngày 19 tháng 3, lữ đoàn 3 sư đoàn 4 và một tiểu đoàn của lữ đoàn 173 không vận Mỹ đổ quân xuống Đồng Rùm. Đây là một trảng lớn (dài hơn 1 ki-lô-mét, rộng khoảng 800 mét) xung quanh có nhiều trảng trống như Tri Giếc, Trảng Dài, Sóc Xoài, Chà Dơ, Trảnh Tranh... Bìa trảng là những vạt rừng thưa, cây thân gỗ mọc xen với le, phần lớn là cây đã bị trụi hết vì địch rải chất độc hoá học. Phía tây trảng là Suối Dây và sông Tha La, phía nam là đường liên tỉnh 13, phía đông là lộ kiểm lâm Chà Dơ – Bổ Túc, phía bắc có lộ kiểm lâm từ trảng Sóc Xoài đến bờ sông Tha La. Đổ quân đóng chốt ở Đồng Rùm, địch có thể tung lực lượng ra càn quét khu vực giữa liên tỉnh lộ 4 và lộ ủi Bà Chiêm. Quân Mỹ ra sức đào đắp công sự, hình thành hai tuyến phòng thủ. Tuyến ngoài có xe tăng, xe bọc thép đóng xen kẽ với bộ binh, mỗi cụm từ 3 đến 5 xe, mỗi xe là một công sự di động. Ngoài ra còn có 6 lô cốt đều bằng bê tông do máy bay cần cẩu chuyển tới. Trung tâm chốt là sở chỉ huy, thông tin, trận địa pháo, cối.

Ngày 20 tháng 3, sau khi nghe trinh sát kỹ thuật báo cáo tình hình cụm quân Mỹ ở Đồng Rùm, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Sư đoàn hạ quyết tâm vận động tập kích quân Mỹ, ngụy ngay trong đêm 20 rạng ngày 21 tháng 3. Trung đoàn 2 đang đứng ở Trà Dơ cách Đồng Rùm 5 ki-lô-mét về phía đông nam vận động đột phá hướng chủ yếu. Trung đoàn 16 đứng cách Đồng Rùm 7 ki-lô-mét về phía bắc, vận động đột phá hướng thứ yếu.

Đêm 20 tháng 3, hai trung đoàn đưa bộ đội vào chiếm lĩnh trận địa, tổ chức hiệp đồng giữa các hướng, bảo đảm bí mật và đúng thời gian quy định.

5 giờ 39 phút ngày 21 tháng 3, Trung đoàn phó Trung đoàn 2 Trương Văn Đàng ra lệnh nổ súng. Sau loạt bắn cấp tập của cối, ĐKZ, hai Tiểu đoàn 4 và 6 đột phá qua tiền duyên, đánh nhanh, xung phong đồng loạt, diệt nhiều hoả điểm và xe cơ giới địch, đánh bật các đợt phản kích của chúng. Đại đội 2 Tiểu đoàn 4 nhanh chóng thọc sâu, đánh trúng sở chỉ huy địch. Trong khi đó, Trung đoàn 16 hiệp đồng theo tiếng súng tập kích cụm quân Mỹ ở phía bắc. Sau ba giờ chiến đấu, Trung đoàn 2 và Trung đoàn 16 diệt và bắt hơn 1.000 tên, đánh thiệt hại 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn cơ giới, phá huỷ 87 xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi 12 máy bay. Bộ đội ta cơ bản diệt được sở chỉ huy địch, diệt gần hết cụm quân Mỹ ở phía nam, đánh thiệt hại cụm quân Mỹ ở phía bắc trảng.

Phát huy khí thế thắng lợi trận Đồng Rùm, ngày 31 tháng 3, Trung đoàn 1 do Trung đoàn trưởng Đỗ Quang Hưng và Chính ủy Lâm Văn Chắn chỉ huy vận động tập kích cụm quân Mỹ ở nam bàu Ba Vũng, đánh thiệt hại nặng cụm tiểu đoàn Mỹ, bắn rơi 14 máy bay trực thăng.

Trong cuộc phản công đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty của quân Mỹ, trận Đồng Rùm là trận đánh tiêu diệt lớn nhất của Sư đoàn, một trận đánh ý nghĩa góp phần quyết định làm thất bại hoàn toàn cuộc hành quân của địch, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của quân và dân toàn Miền, đập tan cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của đế quốc Mỹ.        

Thắng lợi của trận đánh là kết quả của quá trình xây dựng, không ngừng nâng cao quyết tâm đánh Mỹ, tìm tòi, sáng tạo cách đánh quân Mỹ có trang bị hiện đại của cán bộ, chiến sĩ toàn Sư đoàn. Đặc biệt trong trận đánh này, Sư đoàn đã có bước trưởng thành mới về vận động tập kích, với thời gian chuẩn bị ngắn (7 giờ), về tinh thần chủ động hiệp đồng trong chiến đấu, về trình độ bắn súng, nhất là súng máy phòng không, về sử dụng các phân đội nhỏ (tiểu đội, trung đội) thọc sâu, chia cắt làm tê liệt ngay từ đầu sở chỉ huy địch. Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn tích lũy thêm kinh nghiệm mới về chuẩn bị và tổ chức đánh cụm quân Mỹ đóng quân dã ngoại, về hành quân chiếm lĩnh trận địa, phát huy hỏa lực và thực hành xung phong đánh chiếm tiền duyên, tổ chức rút lui sau khi trận đánh kết thúc... Sau trận Bàu Bàng 2 (tháng 11 năm 1965) đây là lần thứ hai Sư đoàn tổ chức, chỉ huy đánh đội hình Sư đoàn (thiếu). Cán bộ chỉ huy Sư đoàn và các cơ quan được rèn luyện, trưởng thành lên. Tuy nhiên, qua trận đánh lớn, cán bộ chỉ huy còn bộc lộ một số khuyết điểm, hạn chế như trinh sát nắm địch không chắc, tổ chức thông tin chỉ huy không chặt, không nắm được Trung đoàn 16 trong quá trình chiến đấu và một số đơn vị khác khi phát triển vào trung tâm, chưa dự kiến hết các tình huống, nhất là tình huống chiến đấu ban ngày; phát huy uy lực và hiệp đồng hoả lực chưa tốt; còn bỏ sót tử sĩ, để mất vũ khí.

Đầu tháng 4 năm 1967, quân Mỹ bắt đầu rút lực lượng ra khỏi khu vực càn quét. Sư đoàn và các đội “du kích” cơ quan Trung ương Cục khẩn trương cơ động bám đánh địch ở các khu vực Cần Lê, Bình Phú, Hớn Quản... Nhưng do địch tổ chức rút quân có kế hoạch, tích cực nghi binh đánh lạc hướng ta để rút từng cụm, từng điểm bằng máy bay lên thẳng nên Sư đoàn chỉ đánh được một số trận nhỏ và pháo kích. Ngày 13 tháng 4, cụm quân Mỹ cuối cùng rút khỏi sóc Con Trăng.

Cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty bắt đầu từ ngày 22 tháng 2 năm 1967, kết thúc trước 1 tháng với thất bại nặng nề của quân Mỹ, cố gắng cao nhất trong kế hoạch ba giai đoạn của tướng Oét-mo-len bị bại. Gọng kìm “tìm diệt” bị bẻ gãy. Gọng kìm “bình định” bị đánh mạnh ở khắp nơi. Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ đứng trước nguy cơ bị phá sản.

II. THAM GIA TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968, KIÊN CƯỜNG BÁM TRỤ ĐÁNH ĐỊCH PHẢN KÍCH

1. Tham gia đội hình tiến công vào Sài Gòn - Gia Định đợt 1 (1968)

Chuẩn bị bước vào Đông Xuân 1967-1968, tháng 9 năm 1967, Trung ương Cục, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tổ chức Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang giải phóng lần thứ hai. Tại Đại hội này, Trung đoàn 1 được tuyên dương là “Trung đoàn khá nhất” của khối chủ lực miền Đông Nam Bộ, được tặng lá cờ thêu 16 chữ vàng: “Trung thành dũng cảm; vượt mọi khó khăn; liên tục lập công; diệt ngụy thắng Mỹ”. Các đồng chí Tạ Quang Tỷ, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2; Đoàn Hoàng Minh, Trung đội trưởng vô tuyến điện Trung đoàn 1; Nguyễn Đức Nghĩa, Trung đội phó Đại đội 2 Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 16 (thời gian này trực thuộc Sư đoàn); Liệt sĩ Hoàng Đình Nghĩa, Tiểu đội trưởng Đại đội 3 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1 được tuyên dương danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.  Đây là niềm vui và là niềm tự hào chung, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ toàn Sư đoàn tiếp tục xây dựng, nâng cao sức mạnh chiến đấu, tiếp tục vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, lập nên những chiến công mới trên chặng đường lịch sử mới.

          Tháng 6 năm 1967, Bộ Chính trị hạ quyết tâm chiến lược “trên cơ sở phương châm đánh lâu dài, đẩy mạnh nỗ lực chủ quan đến mức cao nhất, đưa cuộc chiến tranh cách mạng lên bước phát triển cao nhất... Phương hướng và mục tiêu cụ thể là tập trung lực lượng quân sự, lực lượng chính trị, tiến công đồng loạt, bất ngờ vào nơi địch sơ hở nhất lúc này là các thành thị, hướng trọng điểm là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng...”                            

          Đáp ứng yêu cầu nâng cao trình độ tiêu diệt lớn của bộ đội chủ lực trên chiến trường, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn tập trung chỉ đạo các đơn vị củng cố tổ chức, tranh thủ mọi thời gian để huấn luyện bộ đội nhằm nâng cao trình độ tác chiến hiệp đồng, vận động tập kích trong công sự vững chắc; tập hành quân, trú quân và tác chiến ở vùng đồng bằng, vùng ven và trong các thành phố, thị xã... Đồng thời tìm nhiều biện pháp cụ thể giải quyết khó khăn lớn nhất lúc này là bảo đảm hậu cần.

Tháng 10 năm 1967, mở đầu đợt hoạt động Đông Xuân 1967-1968, Bộ Tư lệnh Miền tập trung phần lớn các đơn vị chủ lực (hai Sư đoàn 9 và 7, Đoàn 69 pháo binh) và lực lượng vũ trang địa phương, mở đợt hoạt động ở khu vực Lộc Ninh - đường 13, nhằm chuẩn bị địa bàn tập kết, cơ động lực lượng chủ lực trên hướng bắc Sài Gòn, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, rèn luyện bộ đội chủ lực ta, tạo điều kiện cho quân và dân các địa phương trên hướng này đẩy mạnh các mặt công tác chuẩn bị theo kế hoạch chung. Cũng trong tháng 10 năm 1967, Trung đoàn 16 nhận nhiệm vụ không tăng cường cho Sư đoàn 9 nữa mà chuyển sang hoạt động tác chiến độc lập ở khu vực Dầu Tiếng, Trảng Bàng, Củ Chi, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền.

Trong thời gian hơn một tháng (từ 26 tháng 10 đến 5 tháng 12 năm 1967), các đơn vị tham gia đợt hoạt động đã đánh 60 trận, trong đó lực lượng của Sư đoàn đánh một số trận có hiệu suất tốt. Đêm 30 tháng 10, Trung đoàn 2 được tăng cường hoả lực của Sư đoàn vận động tập kích cụm hỗn hợp quân Mỹ và ngụy ở sân bay Lộc Ninh, gây thiệt hại nặng cho một chiến đoàn địch; Trung đoàn 3 tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch và làm chủ chi khu quân sự Lộc Ninh. Đầu tháng 12 năm 1967, Sư đoàn phối hợp với quân và dân Tây Ninh đánh bại cuộc càn mang tên “hòn đá vàng” của quân Mỹ, bảo vệ an toàn căn cứ Dương Minh Châu. Đợt hoạt động này, đặc biệt là các trận đánh sân bay, chi khu quân sự có ý nghĩa tập dượt rất quan trọng, nâng trình độ tác chiến của Sư đoàn lên theo yêu cầu, nhiệm vụ chiến đấu trong giai đoạn mới. Với những chiến công xuất sắc trong đợt hoạt động, Trung đoàn 2 được tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng Nhì, cờ thưởng có thêu ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và cờ thưởng luân lưu “vượt lên hàng đầu, lập công quyết thắng” của Quân uỷ, Bộ Tư lệnh Miền. Trung đoàn 3 được Trung ương Cục và Quân ủy Miền tặng danh hiệu truyền thống “Đoàn Lộc Ninh”.

Trong năm 1967, Bộ Tư lệnh Sư đoàn thay đổi cán bộ, tháng 2, theo quyết định điều động của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, đồng chí Hoàng Cầm - Tư lệnh Sư đoàn chuyển về công tác ở cơ quan Bộ Tư lệnh Miền. Đồng chí Tạ Minh Khâm - Tư lệnh phó được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn. Tháng 4, đồng chí Bùi Thanh Vân - Tham mưu trưởng được bổ nhiệm Phó Tư lệnh Sư đoàn thay đồng chí Nguyễn Thế Bôn chuyển công tác về Sư đoàn 7; Tháng 5, đồng chí Nguyễn Thới Bưng - Tham mưu trưởng được bổ nhiệm Tư lệnh phó Sư đoàn; tháng 7 năm 1967, đồng chí Đặng Văn Thượng - Chính ủy Trung đoàn 1 được bổ nhiệm Phó chính uỷ kiêm Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn. Tháng 8, đồng chí Nguyễn Văn Tòng - Phó chính ủy được bổ nhiệm Chính uỷ thay đồng chí Lê Văn Tưởng chuyển về công tác ở cơ quan Quân uỷ Miền.    

Tháng 1 năm 1968, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 14, quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở miền Nam, chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định. Thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng, Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền quyết định tổ chức lại các chiến trường ở miền Đông Nam Bộ, giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 9 và các đơn vị chủ lực Miền tiến công vào các căn cứ địch ở vùng ngoài, kiềm chế và ngăn chặn các sư đoàn Mỹ và ngụy, không cho chúng đưa lực lượng về Sài Gòn, bảo đảm phía sau cho lực lượng vũ trang các phân khu.

Cuối tháng 12 năm 1967, cùng với các đơn vị bạn, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn từ căn cứ bắt đầu hành quân về đồng bằng. Khí thế “xuống đường”, niềm tin “dứt điểm” lên rất cao. Hàng nghìn thư quyết tâm của các đơn vị và cá nhân gửi lên Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn, nguyện chiến đấu, hy sinh làm tròn nhiệm vụ trong thời cơ lịch sử. Trên đường hành quân, Tư lệnh Sư đoàn Tạ Minh Khâm giao nhiệm vụ cho các trung đoàn vừa hành quân vừa chiến đấu để bảo đảm đúng kế hoạch thời gian quy định.

Đêm mùng 1 tháng 1 năm 1968, được lệnh của Tư lệnh Sư đoàn Tạ Minh Khâm, Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 phối hợp chặt chẽ, hành quân chiếm lĩnh vị trí tập kết bí mật, an toàn, diệt gọn cụm chốt của quân Mỹ ở ngã ba Bà Chiêm, mở đường cho các đơn vị bạn vượt qua tuyến phòng thủ phía bắc Sài Gòn của địch. Sau chiến thắng ở ngã ba Bà Chiêm, toàn Sư đoàn tranh thủ thời gian huấn luyện, bổ sung cách đánh ở làng mạc, ruộng đồng trống trải, tập đánh xe tăng, xe M113, tổ chức nguỵ trang, giấu quân, đào công sự... Đồng thời tổ chức sinh hoạt chính trị, xây dựng quyết tâm chiến đấu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, học tập 7 lời căn dặn của Bác Hồ. Để bảo đảm tuyệt đối giữ bí mật cho đến giờ nổ súng, Tư lệnh Sư đoàn Tạ Minh Khâm trực tiếp giao nhiệm vụ cụ thể cho các Trung đoàn trưởng, trong khi đó Chính uỷ Sư đoàn Nguyễn Văn Tòng dặn dò các Chính uỷ trung đoàn làm tốt công tác chính trị, tư tưởng đối với bộ đội.

Đêm 30 rạng ngày 31 tháng 1 năm 1968, tức đêm mồng 1 Tết Mậu Thân, quân và dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở nhiều thành phố, thị xã miền Nam.

Tại Sài Gòn - Gia Định, bộ đội đặc công, biệt động đồng loạt tiến công các cơ quan đầu não quan trọng nhất của Mỹ - ngụy như Đại sứ quán Mỹ, Dinh độc lập của tổng thống ngụy quyền, Bộ tổng tham mưu nguỵ, Biệt khu Thủ đô, đài phát thanh Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất... Các tiểu đoàn mũi nhọn của các phân khu tiến công các vị trí địch ở vùng ven, một số đơn vị vượt qua tuyến ngăn chặn của địch tiến vào nội thành, phối hợp chiến đấu với bộ đội đặc công và biệt động. Trong khi đó các sư đoàn chủ lực Miền tiến công các căn cứ quân sự, sở chỉ huy các sư đoàn quân Mỹ – ngụy ở vòng ngoài, kiềm chế không cho chúng đưa lực lượng về cứu nguy cho nội thành.

Trung đoàn 1 được giao nhiệm vụ tiến công trung tâm huấn luyện Quang Trung của địch. Để bảo đảm đúng thời gian nổ súng theo kế hoạch, Đảng ủy - Ban Chỉ huy Trung đoàn 1 thống nhất giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 3 đi trước đội hình trung đoàn tiến về trung tâm huấn luyện Quang Trung. Đồng chí Nguyễn Văn Sơ, Phó chính uỷ Trung đoàn trực tiếp đi cùng Đại đội 12,  đơn vị chủ công của Tiểu đoàn 3.

Trung tâm huấn luyện Quang Trung là căn cứ quân sự lớn của Mỹ - ngụy, nằm cách nội thành Sài Gòn hơn 10 ki-lô-mét về phía tây bắc. Ở đây địch thường có 16.000 tân binh, xung quanh căn cứ có hệ thống bố phòng cẩn mật, chắc chắn, mạng đường cơ động thuận lợi và có nhiều căn cứ không quân, trận địa pháo binh yểm trợ hoả lực.

Ngày 31 tháng 1 năm 1968, Phó chính ủy Trung đoàn 1 Nguyễn Văn Sơ chỉ huy 1 bộ phận của Tiểu đoàn 3, luồn lách qua tuyến phòng thủ của địch ở vùng ven, áp sát mục tiêu trong khi đại bộ phận đơn vị chưa đến kịp, lực lượng địch lại đông gấp bội. Đồng chí Nguyễn Văn Sơ quyết tâm cho bộ đội nổ súng đúng giờ quy định để phối hợp chung toàn chiến trường. Trận đánh diễn ra ác liệt suốt 5 giờ, đồng chí vừa động viên anh em vừa tổ chức bộ đội đánh bộ binh, bắn máy bay, đồng thời vận chuyển thương binh, tử sĩ về phía sau. Kết quả, 300 tên địch bị tiêu diệt, trung tâm phát thanh bị phá hủy. Với lực lượng rất chênh lệch, nhưng cán bộ, chiến sĩ Đại đội 12 Tiểu đoàn 3 đã trụ lại, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch. Phó Chính ủy trung đoàn Nguyễn Văn Sơ vừa động viên các chiến sĩ, vừa tổ chức, chỉ huy chiến đấu giữ vững trận địa và cầm súng đánh giặc như một chiến sĩ của đại đội. Trong lúc chỉ huy đơn vị xử lý một tình huống chiến đấu ác liệt, đồng chí Nguyễn Văn Sơ đã anh dũng hy sinh. Gương chiến đấu và hy sinh anh dũng của anh đã cổ vũ cán bộ, chiến sĩ Đại đội 12 bám trụ trận địa, kiềm chế một lực lượng lớn quân địch, không cho chúng đưa lực lượng tân binh địch ở đây về Sài Gòn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của trung đoàn và Sư đoàn giao. Ngày 20 tháng 12 năm 1969, đồng chí Nguyễn Văn Sơ được truy tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

Theo kế hoạch, đội hình cơ bản của Trung đoàn 1 là tập trung tiến công trung tâm huấn luyện Quang Trung. Nhưng khi nổ súng chỉ có Tiểu đoàn 3, còn các lực lượng khác chưa tới kịp. Trong khi đó địch đã tung lực lượng từ Thới Tam Thôn (Hóc Môn), ra chi viện, giải toả. Trước tình trên, Sư đoàn lệnh cho Trung đoàn 1 quay sang đánh địch chi viện. Sau 10 ngày chiến đấu liên tục (từ ngày 4 đến 13 tháng 2 năm 1968) với quân địch hơn hẳn ta về xung lực, lại được sự chi viện tối đa của xe tăng và pháo binh, nhưng với tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, táo bạo, linh hoạt, lại được sự đùm bọc giúp đỡ của nhân dân địa phương, từ việc tiếp tế lương thực, tải thương, tải đạn, nuôi giấu thương binh, chôn cất tử sĩ, cung cấp tình hình địch..., đã giúp cho cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 1 khắc phục khó khăn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu. Kết thúc đợt một Tổng tiến công, Trung đoàn 1 đã anh dũng chiến đấu, loại khỏi vòng chiến đấu 856 tên, bắn rơi 23 máy bay, bắn hỏng 56 xe quân sự, phá hủy 2 khẩu pháo, thu 115 súng các loại.

Trung đoàn bộ binh 2 có nhiệm vụ chốt chặn trên đường số 22, đoạn giữa Quang Trung với Hóc Môn qua xã Tân Phú Trung huyện Củ Chi, ngăn chặn sư đoàn 25 ngụy ở Đồng Dù, không cho chúng đưa lực lượng về Sài Gòn; tiêu diệt các vị trí địch co cụm.

Tiểu đoàn 4 do đồng chí Năm Thông làm Tiểu đoàn trưởng được giao nhiệm vụ chốt chặn giữ đoạn đường số 1 trên khu vực xã Tân Phú Trung huyện Hóc Môn (nay là huyện Củ Chi). Dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân, lợi dụng các vườn cây che khuất để giấu quân và cơ động lực lượng, tranh thủ củng cố công sự để tránh sát thương và đánh địch, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 4 đã kiên cường chốt chặn, đánh lui nhiều đợt tiến công của địch, giữ vững trận địa. Có ngày, từ 3 giờ sáng đến 6 giờ chiều, địch huy động 170 lượt chiếc xe tăng, xe bọc thép, mở liên tiếp nhiều đợt phản kích. Bom, pháo địch phá nát các vườn cây trái, phá huỷ nhiều nhà dân, giết chết hàng chục dân thường. Nhưng trong suốt 14 ngày đêm chiến đấu ngoan cường của Tiểu đoàn 4, địch không giải tỏa được đoạn đường số 1 đi qua xã Tân Phú Trung cho đến khi có lệnh của trên, tiểu đoàn mới rút khỏi trận địa.

Trong khi đó, hai Tiểu đoàn 5 và 6 phối hợp với du kích địa phương diệt và bức hàng một số đồn bảo an, dân vệ ở vùng ven căn cứ Đồng Dù. Vũ khí thu được của địch, một số được trang bị cho du kích. Cán bộ chỉ huy các đội du kích cùng trực chỉ huy với các tiểu đoàn, thông báo kết quả nắm địch của du kích, kịp thời xử trí các tình huống và dẫn đường cho bộ đội cơ động chiến đấu.

Bị ta uy hiếp mạnh, quân địch trong căn cứ Đồng Dù gọi máy bay đến ném bom và liên tục bắn pháo vào các khu vực nghi ngờ có bộ đội ta. Có ngày trận địa Tiểu đoàn 5 bị trúng bom địch, 70 cán bộ, chiến sĩ bị thương và hy sinh. Đảng ủy, Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 5 đã dựa vào sự giúp đỡ của cấp ủy Đảng và nhân dân địa phương để mai táng tử sĩ, đưa thương binh về tuyến sau; đồng thời lãnh đạo tốt công tác tư tưởng, động viên cán bộ, chiến sĩ vượt qua mọi hy sinh, ác liệt, kiên quyết giữ vững trận địa.

Phát hiện quân địch tập trung lực lượng bộ binh, nhiều xe tăng, xe bọc thép, chuẩn bị mở cuộc phản kích lớn, Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 5 hội ý với cấp uỷ Đảng địa phương tổ chức cho nhân dân sơ tán, lực lượng còn lại của tiểu đoàn kiên quyết trụ lại đánh địch. Tình huống chiến đấu rất khẩn trương. Nhiều khả năng được đưa ra để thảo luận. Do tiểu đoàn vừa bị thương vong lớn, có ý kiến đề nghị di chuyển sang địa điểm khác để bảo toàn lực lượng còn lại. Nếu tiếp tục trụ lại đánh địch, đơn vị sẽ bị thương vong tiếp, tình hình diễn biến phức tạp khó có thể lường hết. Đảng ủy, Ban Chỉ huy tiểu đoàn đã cân nhắc thận trọng, hạ quyết tâm trụ lại đánh địch, triệt để thực hiện tư tưởng chỉ đạo trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Trụ lại đánh địch, tình huống chiến đấu sẽ vô cùng ác liệt vì địch có ưu thế tuyệt đối về quân số, hoả lực phi pháo và cơ giới. Nhưng nếu đánh thắng sẽ ảnh hưởng chính trị tốt đối với nhân dân vùng địch tạm chiếm, góp phần thực hiện mục tiêu của cuộc tiến công chiến lược. Với quyết tâm và sự nhất trí cao, Đảng uỷ, Ban Chỉ huy tiểu đoàn đã phân công nhau xuống từng tiểu đội quán triệt quyết tâm đến từng chiến sĩ, đồng thời tổ chức bộ đội đào đắp công sự, bố trí lại lực lượng sẵn sàng đánh địch.

Ngày hôm sau, trận đánh diễn ra ác liệt từ sáng sớm. Sau mỗi lần phản kích bị đánh bật ra, quân địch lại gọi máy bay đến ném bom, gọi pháo bắn vào trận địa ta. Nhiều công sự bị phá huỷ, nhà dân bị cháy, cây cối bị gẫy gập. Nhưng quân địch không đột phá được trận địa của Tiểu đoàn 5. Trong đợt tiến công cuối cùng trong ngày của địch, cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn mưu trí chờ cho một số xe địch lọt vào hẳn khu vực trận địa đã bố trí mới tập trung lực lượng đánh bật bộ binh địch ra xa, tạo điều kiện cho tổ diệt cơ giới bắn cháy 2 xe, bắt 1 xe.

Cùng thời gian, trên hướng bắc, đông bắc Sài Gòn, Trung đoàn 3 do Trung đoàn trưởng Chín Mây và Chính ủy Hai Hêm chỉ huy tiến công chi khu quân sự Thủ Đức, Tổng kho Long Bình và khu vực cầu Băng ky (Bình Thạnh), đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn thủy quân lục chiến ngụy.

Đợt 1 cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt kết thúc với thắng lợi to lớn, có ý nghĩa chiến lược. Cùng với quân và dân toàn Miền, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã lập nhiều chiến công xuất sắc.                 

Sau đợt một, theo quyết định của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, Sư đoàn giãn lực lượng ra để củng cố, bổ sung quân số, trang bị; đồng thời tiếp tục giữ một số bàn đạp ở phía bắc Sài Gòn, chuẩn bị các đợt tiến công mới. Ngày 23 đến ngày 25 tháng 3, Trung đoàn 1 do Trung đoàn trưởng Võ Minh Triết và Chính ủy Lâm Văn Chắn chỉ huy vận động phục kích một đoàn xe cơ giới Mỹ trên đường số 1 (thuộc xã An Tịnh huyện Trảng Bàng), phá huỷ 52 xe (có 40 xe tăng, xe bọc thép), bắn rơi 10 máy bay, diệt gần 500 tên Mỹ. Với chiến công xuất sắc trên, Trung đoàn 1 được Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền tặng thưởng Huân chương Quân công gải phóng hạng Nhì.

2. Tham gia Tổng tiến công vào Sài Gòn đợt 2    

Nhận định về đợt 1 cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt của quân và dân ta trên chiến trường trong những ngày Tết Mậu Thân năm 1968, Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Trung ương Cục miền Nam khẳng định: Ta đã giành được thắng lợi to lớn, có ý nghĩa chiến lược, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận đàm phán với ta để giải quyết chiến tranh bằng thương lượng.

Tháng 4 năm 1968, Hội nghị Trung ương Cục chủ trương mở đợt tiến công thứ hai trong mùa Hè năm 1968, nhằm liên tục tiến công địch và phát động quần chúng nổi dậy ở các đô thị.

Đợt hai này, Sư đoàn chuyển về hướng tây và tây nam Sài Gòn, dựa vào vùng nông thôn các tỉnh Long An, Chợ Lớn làm bàn đạp tiến vào nội đô. Khác với đợt một, các đơn vị đều gặp nhiều khó khăn do không còn yếu tố bí mật bất ngờ; địch đã tăng cường 50 tiểu đoàn về Sài Gòn, tổ chức ba tuyến phòng thủ tương đối chặt chẽ. Trong khi đó quân số, trang bị của các đơn vị trong Sư đoàn bị tiêu hao. Mặt khác, thế phối hợp giữa lực lượng bên trong với bên ngoài thành phố và tỉnh đồng loạt trên toàn Miền cũng không được như đợt một. Hướng tiến công mới của Sư đoàn là vùng đồng bằng trống trải, dày đặc đồn bót địch. Để tiến tới mục tiêu, bộ đội phải lội qua nhiều đầm lầy, kênh rạch, vượt qua nhiều đồn bót và tuyến ngăn chặn của địch. Đêm mồng 5 tháng 5 năm 1968, các đơn vị của Sư đoàn đã vào đến các điểm quy định trong nội thành.

Ngày 6 tháng 5 năm 1968, Tiểu đoàn 1 và Đại đội 7, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 1 được lệnh nổ súng đánh chiếm trường đua Phú Thọ. Sau đó, trong những ngày từ mồng 6 đến mồng 8 tháng 5, Trung đoàn 1 phối hợp với Tiểu đoàn 2 (Phân khu 2) đánh lui nhiều đợt phản kích của các tiểu đoàn 33, 35, 38 biệt động ngụy có xe tăng, máy bay yểm trợ ở các khu vực Minh Phụng, đường 46, trường đua Phú Thọ... Chiến sĩ Nguyễn Hồng Phúc bắn súng B40, lần đầu tiên ra trận đã bắn bốn quả đạn, diệt 4 xe tăng địch. Chiến sĩ mới Lê Trung Lâm bắn trung liên RPĐ diệt 45 tên. Trong 4 ngày chiến đấu ở nội thành, Trung đoàn 1 đã diệt 200 tên Mỹ, ngụy, bắn cháy 31 xe tăng, xe bọc thép, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Nhưng do lực lượng chênh lệch, điều kiện chiến đấu khó khăn, Trung đoàn 1 đã bị tổn thất nặng: 700 cán bộ, chiến sĩ hy sinh và bị thương. Đêm mồng 9 tháng 5, Trung đoàn 1 được lệnh rút ra khỏi nội thành về hoạt động ở vùng Bà Điểm, Hóc Môn.

Trong khi đó, cũng vào ngày 6 tháng 5, Trung đoàn 2 vượt qua bưng Vĩnh Lộc và các tuyến phòng thủ của địch, tiến vào khu vực Bà Quẹo, ngã tư Bảy Hiền, Phú Thọ Hoà, sân vận động Cộng Hòa, có đơn vị vào đến đường Sư Vạn Hạnh. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 4 dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Quách Thanh Quang, Chính trị viên Trần Long bám trụ ở khu nghĩa địa gần ngã tư Bảy Hiền, đánh lui hàng chục đợt phản kích của tiểu đoàn 7 dù ngụy có xe tăng và máy bay lên thẳng vũ trang yểm trợ, diệt tên đại tá cảnh sát Lưu Kim Cương. Với khẩu trung liên và lựu đạn, chiến sĩ mới Đặng Văn Tuyết ở Đại đội 1 Tiểu đoàn 4 diệt hàng chục tên địch trên đường phố. Ngày 7 tháng 5, Tiểu đoàn 4 được lệnh rút ra phía tây Bà Quẹo, trú lại đánh địch thêm một số ngày nữa, sau đó rút về gần bưng Vĩnh Lộc, Đức Hoà (Long An).

Ngày 8 tháng 5, được trinh sát báo tin một cụm bộ binh và cơ giới Mỹ chốt ở xã Mỹ Hạnh (Đức Hòa, Long An), Trung đoàn trưởng Trương Văn Đàng giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 6 do Tiểu đoàn trưởng Trịnh Hồng Ngọc và Chính trị viên Đoàn Phúc Hạnh chỉ huy trận vận động tập kích. Mặc dù cự ly vận động xa, phải vượt qua ruộng nước, địa hình trống trải, nhưng với tinh thần chiến đấu dũng cảm, với 84 tay súng được trang bị B40, Tiểu đoàn 6 đã đánh trận vận động tập kích xuất sắc, phá huỷ và hỏng 96 xe (chủ yếu là xe tăng M41, xe bọc thép M113), 12 khẩu pháo, bắn cháy 7 máy bay lên thẳng. Hai ngày sau (10 tháng 5), Tiểu đoàn 6 lại vận động tập kích cụm quân địch ở Vĩnh Lộc, phá hủy và hỏng 54 xe, 13 khẩu pháo của địch. Trung đội trưởng Lê Sơn Hà, Đại đội 13 lập công xuất sắc, được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt cơ giới”.

Cuối tháng 5 năm 1968, Trung đoàn 2 được lệnh rút ra đánh địch ở vùng ven thành phố. Mặc dù quân số và trang bị của các đơn vị đều bị tiêu hao, thế tiến công suy giảm nhiều, nhưng cán bộ, chiến sĩ vẫn kiên cường bám trụ, anh dũng chiến đấu. Tiểu đoàn 5, có đại đội chỉ còn 25 tay súng, nhưng trong trận vận động tập kích cụm cơ giới Mỹ ở Xuân Thới Đông, tiểu đoàn đã phá huỷ 31 xe tăng, xe bọc thép, 3 khẩu pháo, loại khỏi vòng chiến đấu trên 100 tên. Qua các trận chiến đấu, các đơn vị của Trung đoàn 2 đều bị tổn thất lớn, riêng Tiểu đoàn 4 trước khi vào trận được biên chế trên 400 cán bộ, chiến sĩ, khi rút khỏi thành phố chỉ còn 43 người.

Trong những ngày đầu đợt hai, Trung đoàn 3 bị quân địch chặn đánh quyết liệt trên các cánh đồng nước ở khu vực huyện Bình Chánh nên đã không kịp vào tiếp ứng cho lực lượng của Phân khu 2 theo kế hoạch. Nhưng sau đó (từ ngày 25 tháng 5 đến ngày 18 tháng 6) Trung đoàn 3 lại vào được nội thành theo hướng tây. Đêm 25 tháng 5, Tiểu đoàn 8 cùng một bộ phận lực lượng Phân khu 2 tiến công Phú Lâm, Phú Định, Cầu Tre. Đêm 28 tháng 5, Tiểu đoàn 7 được lệnh vào thay thế Tiểu đoàn 8 do bị thương vong nhiều, nhưng khi vào đến Quận 6, Tiểu đoàn 8 đã chiến đấu quyết liệt với 5 tiểu đoàn địch (3 tiểu đoàn biệt động quân 35, 36, 38, tiểu đoàn 2 thủy quân lục chiến, 2 đại đội cảnh sát dã chiến). Ngày 7 tháng 6, Trung đoàn 3 được lệnh rút ra khỏi nội thành.

Trong đợt hai này, cả ba trung đoàn của Sư đoàn cùng chiến đấu trên nhiều đường phố Sài Gòn. Do ta chậm chuyển hướng và cách đánh sau đợt một, đợt tiến công thứ hai diễn ra khi địch đã tăng cường lực lượng và tổ chức ngăn chặn trên tất cả các hướng. Bộ đội ta không còn phát huy được yếu tố bí mật, bất ngờ như đợt một. Sư đoàn không thực hiện được mục tiêu đánh chiếm Biệt khu thủ đô ngụy, các đơn vị đều bị tổn thất lớn, nhưng tất cả cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu cực kỳ anh dũng. Trên 5.000 cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn đã anh dũng ngã xuống trên đường phố, để lại tình cảm nhớ thương trong lòng mỗi người dân Sài Gòn. Hình ảnh các chiến sĩ Sư đoàn 9 Quân giải phóng miền Nam trong những ngày Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân năm 1968 còn sống mãi trong lòng người dân đô thị.

Sau hai đợt tiến công trong mùa Xuân và mùa Hè năm 1968, do lực lượng tổn thất, thế tiến công của ta yếu dần. Các sư đoàn chủ lực trong đó có Sư đoàn 9 phải rút về các vùng căn cứ để củng cố. Vùng ven Sài Gòn chỉ còn một số đơn vị vũ trang địa phương tiếp tục bám trụ giữ bàn đạp. Nhiều cơ sở chính trị, binh vận ở nội thành và vùng ven bị vỡ. Vùng giải phóng bị thu hẹp, Mỹ - ngụy đưa thêm nhiều lực lượng về giữ Sài Gòn, càn quét đánh phá ác liệt vùng nông thôn và giáp ranh.

3. Chuyển hướng tiến công vào tuyến ngoài của địch trên địa bàn hai tỉnh Tây Ninh và Bình Long (8-1968)

Cuối tháng 6 năm 1968, toàn bộ lực lượng còn lại của Sư đoàn được lệnh rút lên sát biên giới Việt Nam - Campuchia. Theo tinh thần chỉ đạo của trên, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn tập trung vào việc củng cố các đơn vị; đồng thời cử một bộ phận lực lượng do Tư lệnh Sư đoàn Tạ Minh Khâm trực tiếp chỉ huy xuống vùng An Ninh, Lộc Giang trinh sát nắm tình hình địch, xây dựng địa bàn, chuẩn bị đánh vào Sài Gòn đợt 3. Bộ phận này hoạt động trong điều kiện vô cùng gian khổ, ác liệt. Cán bộ, chiến sĩ đều phải đào hầm bí mật, ban ngày núp xuống hầm hoặc giấu mình dưới các lùm cây ngoài bưng, ngoài đồng; ban đêm len lỏi vào vùng địch móc nối cơ sở, nắm tình hình địch. Mặc dù được nhân dân che chở trong quá trình hoạt động, nhưng do Mỹ - ngụy càn quét, đánh phá quyết liệt ngày đêm, vì vậy đã có hơn 200 cán bộ, chiến sĩ, số đông là trinh sát, quân báo đã anh dũng hy sinh trong khi thực hiện nhiệm vụ. Đây là tổn thất rất lớn của Sư đoàn vì họ đều là những cán bộ, chiến sĩ ưu tú.

Nhận định tình hình đã thay đổi, không thể đưa chủ lực đánh tiếp vào Sài Gòn và các thị xã như ý định, tháng 7 năm 1968, Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền quyết định chuyển hướng hoạt động, huy động phần lớn các đơn vị chủ lực Miền mở chiến dịch tiến công địch trên hướng tây bắc và bắc Sài Gòn (địa bàn hai tỉnh Tây Ninh, Bình Long) đánh vào tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, làm lỏng thế phòng thủ của chúng, kéo lực lượng địch ở tuyến giữa và tuyến trong ra, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang các phân khu hoạt động. Hướng chủ yếu của chiến dịch là tỉnh Tây Ninh, hướng thứ yếu là tỉnh Bình Long. Phương châm chỉ đạo tác chiến là đánh quân viện và quân địch thoát ly công sự là chính, kết hợp với tập kích, cơ động nhanh, kết hợp đánh vừa và đánh nhỏ. Cùng với Sư đoàn 5, Trung đoàn 174, hai trung đoàn pháo binh, hai đoàn đặc công Miền và hai tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Tây Ninh, Sư đoàn 9 hoạt động trên hướng chủ yếu (bắc Tây Ninh). Đoàn hậu cần 83 của Miền tổ chức cánh A và B, trong đó có một số tuyến vận tải bộ đưa gạo, đạn đến vị trí tập kết của Sư đoàn. Bộ Tư lệnh Miền thành lập Sở chỉ huy tiền phương trực tiếp chỉ đạo các đơn vị trên hướng chính.

Địa bàn chiến dịch (hai tỉnh Tây Ninh, Bình Long) nằm trên tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch. Ở Tây Ninh, sư đoàn bộ binh cơ giới 25 “Tia chớp nhiệt đới” Mỹ, bố trí lữ đoàn 1 ở khu vực ven thị xã, trong đó 1 tiểu đoàn ở Trảng Lớn, 1 tiểu đoàn ở Trà Phí, 1 tiểu đoàn ở Chà Là; lữ đoàn 3 đứng ở khu vực Dầu Tiếng, Bến Củi; lữ đoàn 2 (thê đội 2) đứng ở Củ Chi. Tuyến phòng thủ của địch dựa vào hai trục chính là đường 13 và 22, mỗi tuyến có nhiều căn cứ hỗn hợp bộ binh, pháo binh, cơ giới, có khả năng độc lập mở các cuộc hành quân càn quét trong khu vực và yểm trợ cho các căn cứ khác. Đây là một hình thức tổ chức lực lượng và biện pháp chiến thuật mới của địch, nhằm đối phó với chiến thuật vận động tập kích của ta.

Mở màn chiến dịch, đêm 17 tháng 8 năm 1968, trên hướng chủ yếu Trung đoàn 3 tiến công cụm quân Mỹ ở Trà Phí cách thị xã Tây Ninh 5 ki-lô-mét về phía bắc. Các mũi tiến công của trung đoàn giữ bí mật khi chiếm lĩnh trận địa, lợi dụng lúc pháo bắn để tiếp cận, đột phá hướng chủ yếu chính xác và phát huy tốt các loại hoả khí diệt tăng, diệt lô cốt địch. Trận đánh kết thúc nhanh chóng. Quân Mỹ chết và bị thương hơn 400 tên, 33 xe tăng, xe bọc thép, sáu khẩu pháo 105, hai khẩu cối 106,7 mm bị phá hủy. Cùng ngày, một tiểu đoàn của Trung đoàn 1 tập kích cụm quân Mỹ ở bắc Trảng Lớn, loại khỏi vòng chiến đấu 120 tên. Trong khi đó, các Trung đoàn bộ binh 33, 88, Đoàn đặc công Miền và hai tiểu đoàn bộ đội địa phương Tây Ninh đánh liên tiếp một số trận vận động phục kích trên đường giao thông và đột nhập thị xã. Chiến dịch mở đầu khá tốt, nhưng do sức tiến công của ta chưa đủ mạnh, một số trận không dứt điểm, địch không ra ứng cứu giải tỏa nên Sư đoàn và các đơn vị bạn không có điều kiện đánh địch ngoài công sự như ý định và kế hoạch chiến dịch.

Ngày 19 tháng 8, Bộ Chỉ huy chiến dịch lệnh cho các đơn vị đánh mạnh hơn. Trung đoàn 3 (thiếu Tiểu đoàn 7), tập kích quân địch ở Trà Phí lần thứ hai, loại khỏi vòng chiến đấu 600 tên, phá hủy 82 xe quân sự, 10 khẩu pháo, bắn rơi 4 máy bay. Ngày 22 và 26 tháng 8, Trung đoàn 2 tập kích "ấp chiến lược" Bến Sỏi và cụm quân Mỹ đóng dã ngoại ở tây Bến Sỏi, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Hướng thứ yếu (Bình Long), Sư đoàn 7 và lực lượng vũ trang địa phương hoạt động mạnh ở khu vực Lộc Ninh, thu hút ba tiểu đoàn Mỹ lên, tạo điều kiện cho các đơn vị vận động tiêu diệt một số sinh lực địch ngoài công sự.

          Từ ngày 10 đến ngày 28 tháng 9, chiến dịch chuyển sang đợt hai. Hướng chủ yếu (Tây Ninh), Trung đoàn 1 phối hợp với Trung đoàn 2 tập kích cụm quân Mỹ ở Lâm Vô, Bến Sỏi, buộc quân Mỹ phải tăng viện bằng cơ giới và đổ bộ đường không bằng máy bay lên thẳng, tạo điều kiện cho Trung đoàn 3 và Trung đoàn 88 vận động phục kích, diệt cơ giới và sinh lực địch trên đường 22, 26, liên tỉnh lộ 4, tập kích địch ở Bến Củi, Bến Sắn. Đêm 19 tháng 9, Trung đoàn 2 cài thế, dùng một tiểu đoàn diệt đồn Tà-băng-rô-bon do một đại đội bảo an ngụy đóng giữ, dụ quân địch lên cứu viện, tạo điều kiện cho bộ phận lớn lực lượng của trung đoàn vận động tập kích địch đóng quân dã ngoại khi chúng thoát ly công sự đi giải toả, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến và hai đại đội biệt kích ngụy, bắn rơi chiếc máy bay lên thẳng chở tên tướng sư đoàn trưởng sư đoàn bộ binh số 1 “Anh cả đỏ” Mỹ.

Đêm 22 tháng 12 năm 1968, đúng dịp kỷ niệm 24 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Trung đoàn 2 dưới sự chỉ  huy của Trung đoàn trưởng Trương Văn Đàng và Chính ủy Nguyễn Tấn Dành phối hợp với du kích địa phương vận động tập kích đánh thiệt hại nặng cụm quân Mỹ vừa đóng quân dã ngoại ở Bến Cầu. Với chiến công này, Trung đoàn 2 được tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba và tiếp tục giữ cờ luân lưu “Quyết chiến Quyết thắng giặc Mỹ xâm lược”. Đêm 24 tháng 1 năm 1969, Trung đoàn 2 tiếp tục tiến công ấp chiến lược Trà Cao và sau đó trong nhiều ngày, tại khu vực Trà Cao - Gò Ngãi - ngã ba Bà Xẩm huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh, trung đoàn đã kiên cường bám trụ, liên tục thực hiện 11 trận tập kích cụm tiểu đoàn quân Mỹ khi chúng vừa đổ quân đóng chốt tại Trà Cao; tiêu diệt, tiêu hao nhiều đơn vị của Mỹ - ngụy. Sau đợt hoạt động này Trung đoàn trưởng Trương Văn Đàng được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng  Nhì, vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen và tặng thưởng huy hiệu của Người.

Ngày 28 tháng 9 năm 1968, chiến dịch Tây Ninh, Bình Long kết thúc. Đây là thời điểm Sư đoàn tạm thời dừng hoạt động để củng cố qua hai đợt tiến công vào Sài Gòn và tham gia chiến dịch Tây Ninh, Bình Long trong năm 1968.

Chặng đường đã qua, tham gia Tổng tiến công và nổi dậy, tiến về Sài Gòn, đó là nguyện vọng, là mục tiêu của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn ngay từ những ngày đầu Sư đoàn mới thành lập. Vượt qua thử thách ác liệt của chiến tranh, trải qua những ngày thiếu đạn, thiếu gạo, thiếu thuốc... Sư đoàn đã từng bước đi lên. Từ Đất Cuốc, Bàu Bàng, Nhà Đỏ, Cần Lê, Gian-xơn Xi-ty đến Xuân Hè 1968, Sư đoàn tiến về Sài Gòn, đánh quân Mỹ, ngụy ngay trên các đường phố. Trong cuộc Tổng tiến công lịch sử này, Sư đoàn đã đánh 524 trận, làm thương vong 31.544 tên Mỹ - ngụy; đánh thiệt hại 17 tiểu đoàn; phá huỷ 1.441 xe quân sự; bắn rơi và phá huỷ 394 máy bay các loại. Do tương quan lực lượng, Sư đoàn chưa thực hiện được trọn vẹn các nhiệm vụ đã đề ra. Số cán bộ, chiến sĩ bị hy sinh và bị thương cao hơn cả số quân khi bước vào chiến đấu.     

Trong chiến tranh, nhất là chiến tranh với kẻ thù tàn bạo, trang bị rất hiện đại, như quân Mỹ xâm lược, tổn thất về sinh lực là không thể tránh khỏi. Nhưng đây là thời kỳ tổn thất lớn nhất, nặng nề nhất trong lịch sử Sư đoàn. Bằng xương máu của mình, lòng quả cảm và quyết tâm chiến đấu triệt để nhất, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn, thế hệ năm 1968 lịch sử đã góp phần cùng quân và dân cả nước lập nên kỳ tích: đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, tạo ra bước ngoặt căn bản của chiến tranh. Đối với Sư đoàn, cuộc Tổng tiến công vào Sài Gòn năm 1968 còn ý nghĩa như một cuộc tập dượt, để lại những kinh nghiệm quý báu cho các giai đoạn xây dựng và chiến đấu tiếp theo, để lại một hình ảnh đẹp của Quân giải phóng trong lòng người dân Sài Gòn, tạo cơ sở cho cuộc Tổng tiến công giải phóng Sài Gòn năm 1975.        

Những nét tiêu biểu đặc sắc nhất của truyền thống Sư đoàn từ đây cũng được xác định, đó là: “Đoàn kết, khiêm tốn, anh dũng, sáng tạo, đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm, sống anh dũng, chết vinh quang ”.

Với những kinh nghiệm đã tích lũy được và những truyền thống tốt đẹp trong xây dựng và chiến đấu, Sư đoàn vững bước tiến vào một thời kỳ lịch sử mới, thời kỳ tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng trong những chiến dịch quy mô ngày càng lớn.

4. Khắc phục khó khăn, kiên cường bám trụ đánh địch phản kích

Tiếp theo những thắng lợi liên tiếp trong mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam, trong cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ trên miền Bắc đã giáng đòn quyết định, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của chúng. Tổng thống Mỹ Giôn-xơn buộc phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện việc ném bom đánh phá miền Bắc, chấp nhận họp Hội nghị bốn bên ở Pa-ri, xuống thang chiến tranh, rút dần quân Mỹ về nước. Sau khi thay Giôn-xơn làm tổng thống nước Mỹ, Ních-xơn đã đề xướng một chiến lược toàn cầu mới gọi là “học thuyết Ních-xơn”, điều chỉnh kế hoạch “phi Mỹ hoá” cuộc chiến tranh thành một chiến lược mới gọi là “Việt Nam hoá” chiến tranh. Mục tiêu và biện pháp cơ bản của chiến lược mới là tiếp tục tăng cường và đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, quyết giành thắng lợi quân sự trên chiến trường bằng sức mạnh tối đa của viện trợ Mỹ, hoả lực và sức cơ động chi viện cho quân ngụy; bảo đảm cho quân ngụy đảm nhiệm được vai trò chính trong cuộc chiến tranh, tạo điều kiện rút dần quân viễn chinh Mỹ về nước, thực hiện bình định quyết liệt để giành quyền kiểm soát đô thị, vùng nông thôn và phần lớn nhân dân miền Nam; dùng bom đạn đánh phá huỷ diệt và các thủ đoạn ngoại giao xảo quyệt để bao vây, bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân ta, cắt đứt các tuyến vận tải chiến lược từ miền Bắc vào miền Nam, huỷ diệt các căn cứ làm cho cuộc chiến tranh nhân dân của ta mất chỗ dựa, mất nguồn sống; lực lượng vũ trang ta trên chiến trường không còn chỗ đứng buộc phải phân tán không thể tập trung đánh lớn vì không còn thế chiến tranh nhân dân, không có căn cứ và nguồn tiếp tế hậu cần. Một trong những mục tiêu hàng đầu của địch là làm tan rã các đơn vị chủ lực ta, đẩy các sư đoàn, trung đoàn chủ lực ra ngoài biên giới, làm cho chiến tranh lùi về trạng thái du kích và “tàn lụi” dần. Mỹ sẽ rút được quân ra mà vẫn giữ được miền Nam Việt Nam làm thuộc địa kiểu mới của chúng.

Ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, ngay từ giữa năm 1968, địch đã điều thêm sư đoàn “kỵ binh bay” và sư đoàn 101 không vận, cùng với sư đoàn số 1 “Anh cả đỏ”, sư đoàn 25 “tia chớp nhiệt đới” và quân ngụy càn quét, đánh phá ác liệt vùng ven Sài Gòn - Gia Định, các thị xã, thị trấn và vùng nông thôn đồng bằng, đẩy dần lực lượng chủ lực ta về các vùng căn cứ miền núi. Máy bay chiến lược B52, máy bay cường kích chiến thuật ném bom, rải chất độc hoá học và “pháo bầy” bắn phá suốt ngày đêm nhằm huỷ diệt các căn cứ, vừa tiêu hao, vừa đẩy các đơn vị chủ lực ta ra xa, không còn chỗ đứng ở chiến trường trong nước. Sư đoàn bộ binh 21 và liên đoàn 4 biệt động quân ngụy làm nhiệm vụ chủ yếu là chốt chặn tuyến biên giới, ngăn chặn các tuyến vận tải của ta lên miền Đông. Quân Mỹ, quân ngụy liên tục càn quét đánh phá dữ dội các khu vực nghi ngờ có lực lượng ta đốt phá, nhiều kho tàng cơ sở vật chất mà từ lâu ta đã chuẩn bị được. Bên cạnh các lực lượng hỗn hợp và hoả lực Mỹ, quân ngụy đóng thêm hàng trăm đồn bót, kiểm soát chặt chẽ các vùng dân cư và các đường giao thông. Tuyến vận tải chiến lược đường bộ “Đoàn 559” và đường biển “Đoàn 125” bị đánh phá, ngăn chặn quyết liệt. Có thời gian, các kho hậu cần của Bộ Tư lệnh Miền chỉ còn đủ gạo cho bộ đội ăn trong một tháng. Việc đánh địch và giữ vững các đơn vị chủ lực ở chiến trường gặp khó khăn gay gắt. Cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta trên các chiến trường đứng trước những thử thách vô cùng  quyết liệt.

          Phân tích âm mưu và biện pháp chiến lược mới của địch, Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền đề ra chủ trương khắc phục mọi khó khăn, tranh thủ tiếp nhận sự chi viện của hậu phương lớn về người và vật chất để giữ vững khối chủ lực; đồng thời mở tiếp các đợt hoạt động mới với quy mô thích hợp trong Xuân - Hè năm 1969 nhằm duy trì thế tiến công địch ở chiến trường, sự phối hợp giữa các lực lượng vũ trang ba thứ quân, kết hợp đấu tranh chính trị và tiến công quân sự để phá kế hoạch bình định của địch. Nhiệm vụ chính của các đơn vị chủ lực lúc này là gấp rút củng cố tổ chức, huấn luyện nâng cao sức mạnh chiến đấu, kiên quyết đánh địch bảo vệ căn cứ; đồng thời tích cực tăng gia sản xuất, khai thác nguồn hậu cần tại chỗ, tham gia mở đường và bảo vệ các tuyến vận tải.

Sau chiến dịch Tây Ninh, Bình Long, Sư đoàn tiếp tục bám trụ hoạt động ở địa bàn sát biên giới thuộc tỉnh Tây Ninh. Theo tinh thần chỉ đạo của Quân uỷ, Bộ Tư lệnh Miền và trước tình hình địch càn quét, phản kích, đánh phá dữ dội, Sư đoàn phải thay đổi phương thức hoạt động để bảo toàn lực lượng và thực hiện nhiệm vụ tác chiến. Đêm đêm cán bộ các cấp trong Sư đoàn đều phải trực tiếp đi nghiên cứu địa hình, tìm hiểu quy luật, thủ đoạn hoạt động của địch, có khi phải cùng các chiến sĩ trinh sát đào hầm, ban ngày bí mật ém kín ở khu vực phán đoán địch đổ quân hoặc hành quân qua để tìm biện pháp đối phó. Bám trụ địa bàn giấu quân và hoạt động trong điều kiện bom đạn, chất độc hoá học địch đã huỷ diệt cây cối, cày xới làm thay đổi địa hình, có những vạt rừng chỉ còn vài lùm cây lưa thưa, việc tiếp tế khó khăn là thử thách rất lớn với từng đơn vị và mỗi cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn. Hầu như mọi hoạt động đều phải chuyển về đêm, lấy đêm làm ngày. Ban đêm cũng thường phải di chuyển, nghi binh, lừa địch để bảo toàn lực lượng. Dù không có kế hoạch tác chiến, hậu cần vẫn phải bảo đảm cho bộ đội mỗi người một nắm cơm để sẵn sàng cơ động di chuyển sang hướng khác trong đêm hoặc phải di chuyển đến khi gần sáng mới trở về địa điểm giấu quân. Quá trình di chuyển trong đêm, nếu phát hiện địch, có thời cơ và bảo đảm chắc thắng là tổ chức đánh ngay. Vì vậy, mỗi đơn vị, mỗi cán bộ đều phải chuẩn bị, dự phòng nhiều phương án để có thể tổ chức chiến đấu nhanh và rút lui, phân tán nhanh. Chỉ có như vậy mới tiêu diệt được địch hạn chế tổn thất.

Cuối tháng 12 năm 1968, theo quyết định điều động của Bộ, đồng chí Tạ Minh Khâm, Tư lệnh Sư đoàn và đồng chí Nguyễn Văn Tòng - Chính ủy Sư đoàn chuyển công tác về cơ quan Quân ủy Miền. Đồng chí Lê Văn Nhỏ (Hai Lâm) được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn; đồng chí Nguyễn Văn Quảng (Năm Phòng) được bổ nhiệm làm Chính ủy Sư đoàn. Đến tháng 7 năm 1969, đồng chí Trương Văn Đàng Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2 được bổ nhiệm Phó Tư lệnh Sư đoàn thay đồng chí Bùi Thanh Vân chuyển công tác về Sư đoàn 5.

Trước âm mưu và hành động bình định quyết liệt của địch, Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng trước mắt của bộ đội chủ lực là đánh phá bình định, khôi phục lực lượng vũ trang địa phương và thế trận chiến tranh nhân dân. Nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, trong đợt hoạt động trên, các đơn vị trong Sư đoàn đã kiên cường bám trụ, cùng nhân dân và các lực lượng vũ trang địa phương đánh phá bình định. Trong đó có một số trận điển hình như: Đêm 24 tháng 1 năm 1969, Trung đoàn 2 tiến công ấp chiến lược Trà Cao. Đây là một ấp chiến lược được địch xây dựng từ rất sớm, trong ấp có khoảng 20.000 dân, được “bảo vệ” bằng lớp tường cao 2 mét, với 8 lô cốt, giữa ấp là một lô cốt mẹ. Mặc dù trong ấp không có cơ sở ta hoạt động, nhưng do điều tra kỹ, nắm chắc tình hình bố phòng của địch, Trung đoàn 2 đã diệt được lực lượng trong ấp. Sáng ngày 25 tháng 1, Trung đoàn tập trung lực lượng vận động tập kích, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn bộ binh và một đại đội pháo binh Mỹ, phá huỷ 38 xe cơ giới, khi chúng cơ động lên ứng cứu cho lực lượng địch ở Trà Cao. Phát huy thắng lợi, đêm 22 tháng 2 năm 1969, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Tô Bon tổ chức lực lượng vận động tập kích cụm quân địch đóng quân dã ngoại ở gần khu vực Trà Cao, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên. Hai ngày sau (24 tháng 2 năm 1969), Tiểu đoàn 5 vận động tập kích gây thiệt hại nặng cho cụm quân Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên khi chúng vừa đổ  quân đóng chốt tại khu vực Trà Cao.

Ngày 12 tháng 8 năm 1969, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 1) tập kích cụm bộ binh cơ giới thuộc trung đoàn 15 ngụy ở cua chữ S gần thị xã Bình Long, loại khỏi vòng chiến đấu 450 tên, phá hủy 60 xe quân sự, bắn rơi 5 máy bay. Tiếp đó, tiểu đoàn vận động phục kích chi đoàn xe thiết giáp Mỹ ở đông bắc Sở Tư, phá huỷ 26 xe, làm thương vong hơn 100 tên Mỹ. Trong khi đó, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 1 tập kích ấp chiến lược Sở Tư, diệt một đại đội bảo an; sau đó chuyển sang phục kích đánh quân Mỹ lên giải toả, bắn cháy 54 xe quân sự, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên. Cũng trong thời gian này, Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 2) dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Lê Tấn Cẩm và Chính trị viên Bành Sám tập kích Sóc Giếng bắt gọn chi đoàn thiết giáp, gồm 15 xe M113 và 4 xe M41 của trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ. Sau đó, tiểu đoàn tiếp tục phục kích diệt thêm 4 chiếc M41 tại khu vực ngã ba Phú Lố cách thị xã An Lộc 4 ki-lô-mét về phía tây. Cuối tháng 8, Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 2 vận động tập kích đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn bộ binh Mỹ khi chúng vừa đổ bộ bằng máy bay trực thăng xuống khu vực Sóc Giếng. Ngoài một số trận tiêu biểu trên, số trận còn lại phần lớn là đánh quân địch khi chúng hành quân càn quét vào các khu vực căn cứ ở quy mô nhỏ, nhưng hiệu suất diệt địch không cao. Vấn đề này cũng dễ hiểu, vì đây là thời gian Sư đoàn phải tập trung củng cố sau các đợt Tổng tiến công năm 1968, số quân và trang bị thiếu so với biên chế; chỗ đứng không ổn định, việc bảo đảm hậu cần gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, địa bàn hoạt động của các đơn vị bị thu hẹp vì địch ném bom, bắn pháo ác liệt, dân ở các vùng căn cứ và vùng tranh chấp bị địch tìm mọi cách để đưa về vùng chúng kiểm soát. Hoạt động phối hợp với bộ đội chủ lực của nhân dân và các lực lượng vũ trang như trinh sát nắm địch, vận tải vật chất, đấu tranh chính trị, binh vận và tác chiến phối hợp, nuôi dưỡng, chuyển thương binh, tử sĩ về phía sau... gặp rất nhiều khó khăn.

Từ giữa năm 1969, sau khi bình định, kiểm soát được phần lớn nông thôn, đồng bằng, quân địch lấn tới, càn quét, đánh phá ngày càng ác liệt. Mỹ đã huy động khoảng 3.600 phi vụ B52, ném trên 100.000 tấn bom hủy diệt các vùng chúng nghi là có căn cứ chỉ huy, cơ sở hậu cần của ta trên tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia, thực hiện âm mưu đẩy các sư đoàn chủ lực ta ra ngoài biên giới.

Giữa những ngày chiến đấu gian khổ ác liệt, kiên cường trụ bám chiến trường trong mùa mưa năm 1969, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn vô cùng đau đớn nhận được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần. Biến đau thương thành hành động cách mạng, thi đua lập công đền ơn Bác, cán bộ, chiến sĩ toàn Sư đoàn càng siết chặt thêm hàng ngũ, nắm chắc tay súng, quyết tâm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Ngày 5 tháng 9 năm 1969, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 1), do đồng chí Nguyễn Văn Chia, Chính trị viên và đồng chí Trần Văn Tràng chỉ huy, tất cả đều mang băng tang trên tay áo, vận động phục kích, đánh thiệt hại nặng chi đoàn 11 xe thiết giáp Mỹ ở Bình Phú (Bình Long). Sau đó, tiểu đoàn đánh bại 7 lần phản kích của địch, bắn cháy 22 xe tăng, xe thiết giáp, diệt hơn 200 tên Mỹ. Ngày 5 tháng 9, Trung đoàn 3 do đồng chí Tư Tân chỉ huy tổ chức trận tập kích tiêu diệt gọn 1 đại đội biệt kích ở căn cứ Suối Dây; Ngày 6 tháng 9, Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 3) đánh thiệt hại nặng quân Mỹ ở Bà Chiêm; Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 1) đánh thiệt hại nặng hai đại đội thiết giáp Mỹ và một đại đội biệt kích ngụy ở Bình Phú, Sở Tư... Đây là những trận đánh mở đầu đợt hoạt động “biến đau thương thành hành động cách mạng, lập công đền ơn Bác” của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn.

Đầu tháng 10 năm 1969, theo quyết định điều động của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, Trung đoàn 95C thuộc Sư đoàn 1, được biên chế về đội hình Sư đoàn 9 với phiên hiệu mới là Trung đoàn 3. Ban Chỉ huy trung đoàn gồm các đồng chí: Nguyễn Tám Mới, Trung đoàn trưởng; Hoàng Trình, Trung đoàn phó; Nguyễn Văn Thái, Chính uỷ; Lê Chư, Phó chính uỷ. Biên chế của trung đoàn gồm các Tiểu đoàn bộ binh 7, 8, 9 và các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần cùng các đại đội binh chủng trợ chiến, bảo đảm.

Trung đoàn 3 (Trung đoàn 95C) được thành lập ngày 23 tháng 9 năm 1965 tại huyện Ngọc Lạc, tỉnh Thanh Hoá. Khi thành lập Ban Chỉ huy trung đoàn gồm: Thiếu tá Hồ Ngọc Trai, Trung đoàn trưởng; Thiếu tá Lê Tuỵ, Chính ủy; Đại úy Cao Kim Thịnh, Trung đoàn phó; Đại úy Nguyễn Ngọc Định, Phó Chính uỷ. Cùng với đội ngũ cán bộ khung cơ quan, tiểu đoàn và các đại đội dã chiến, tổng cộng có 27 đồng chí, những đồng chí này phần lớn đã tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. Trung đoàn 95C thực chất là Trung đoàn 95 thứ ba của Sư đoàn 325 (gọi là Trung đoàn 95C). Tiền thân Trung đoàn 95 vốn là Chi đội Thiện Thuật (Quảng Trị), ra đời trong cao trào Cách mạng tháng 8 năm 1945. Là trung đoàn chủ công của Mặt trận Bình Trị Thiên và của Đại đoàn 325 trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Sau hơn một năm huấn luyện tại Thanh Hóa, cuối tháng 3 năm 1967, Trung đoàn hành quân vào chiến đấu ở Mặt trận Đường 9 - Quảng Trị và lập nhiều chiến công xuất sắc.

Đầu tháng 4 năm 1967, Tiểu đoàn 6 dùng súng cối bắn cấp tập vào căn cứ Tà Cơn mở màn các trận đánh Mỹ của trung đoàn. Đòn tập kích hỏa lực này đã tiêu diệt và làm bị thương 72 tên Mỹ, trong đó có tên trung tá tiểu đoàn trưởng. Phát huy thắng lợi mở đầu này, tổ ba người của Vũ Văn Huynh đã dùng lựu đạn ném vào máy bay trực thăng, diệt 5 tên sĩ quan Mỹ khi chúng vừa hạ cánh xuống đồi Không Tên.

Ngày 11 tháng 4, Đại đội 17 dùng ĐKZ 75 ngắm bắn trực tiếp vào sân bay Tà Cơn diệt 70 tên địch, phá hủy 2 máy bay; ngày 21 tháng 4, Tiểu đoàn 5 vận động tập kích diệt gọn một đại đội Mỹ trên đường số 9 đoạn Hương Hóa - Làng Vây; ngày 24 tháng 4, Tiểu đoàn 6 vận động tập kích diệt gọn một đại đội Mỹ ở khu vực Nguồn Rào; từ ngày 30 tháng 4 đến ngày 2 tháng 5, Đại đội 16 liên tục dùng cối 82 mm bắn phá liên tục vào các cao điểm 832 và 845 (Tà Cơn), gây cho địch nhiều tổn thất, có ngày diệt 80 tên Mỹ.

Ngày 7 và 9 tháng 5, trung đoàn tổ chức trận đánh trên cao điểm 843, 845 (Tà Cơn), diệt gọn 1 đại đội và đánh thiệt hại nặng 1 đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên, bắn rơi một máy bay; ngày 3 tháng 6, phát hiện một tiểu đoàn Mỹ vừa đổ quân xuống cao điểm 845, Trung đoàn trưởng Hồ Ngọc Trai lệnh cho Đại đội 17 do đồng chí Hoàng Dậu - Chủ nhiệm pháo binh Trung đoàn chỉ huy, với 6 khẩu cối 82 mm và 4 khẩu ĐKZ 75 đã tập kích liên tục vào tiểu đoàn Mỹ, tiêu diệt 170 tên; tiếp tục góp phần cùng với chiến thắng chung của Mặt trận đường 9 - Khe Sanh, ngày 6 tháng 6, trung đoàn quyết định tiến công tiêu diệt lực lượng quân Mỹ đóng ở đồi Động Tri. Với hệ thống công sự, hầm hào kiên cố và nhiều hàng rào kẽm gai đủ loại, nhiều tầng, nhiều lớp có chiều sâu từ 300 mét đến 400 mét từ dưới chân đồi lên kết hợp với mìn nhảy, mìn sáng… Cứ điểm Động Tri là hình mẫu của sức mạnh của quân đội Mỹ, chúng cho rằng ta khó tiếp cận và tiến công được.

Với tinh thần chiến đấu mưu trí dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 6 và Đại đội 21 trinh sát trung đoàn, sau 30 phút chiến đấu, một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ bị diệt gọn, 180 tên chết và bị thương, phá hủy trạm thông tin có tầm chiến dịch - chiến lược của địch, thu nhiều vũ khí. Chiến thắng đồi Động Tri, ngày 6 tháng 6 năm 1967 của Trung đoàn 3 (95C) đã gây tiếng vang lớn ở Mặt trận đường 9 - Quảng Trị. Trong những ngày chiến đấu gian khổ ác liệt tại Mặt trận đường 9 - Quảng Trị, đã xuất hiện nhiều gương chiến đấu xuất sắc như tổ chiến đấu ba người do Nguyễn Văn Thảo làm tổ trưởng đã cùng trung đội độn thổ vào trong hàng rào căn cứ địch. Tổ chức chiến đấu đào công sự chốt sát hàng rào, dụ địch ra và dựa vào công sự vận động chiến đấu kiên cường bẻ gãy nhiều đợt phản kích của hai đại đội Mỹ, diệt nhiều tên; Trung đội trưởng Nguyễn Văn Oanh, sử dụng súng đại liên bắn cháy một máy bay chở quân Mỹ vừa tới đường băng sân bay Tà Cơn, diệt 49 tên Mỹ; chiến sĩ Nguyễn Văn Nhương, xạ thủ 12,7 mm bắn rơi 3 máy bay Mỹ trong một ngày; xạ thủ B40 Mai Quang Vinh trong trận đánh đồi Động Tri bắn 3 quả B40 diệt 3 lô cốt địch…

Với những chiến công vang dội ở Mặt trận đường 9 - Khe Sanh - Quảng Trị trong năm 1967, tập thể trung đoàn 3 (95C), 2 đại đội và 2 trung đội được tặng thưởng 2 Huân chương Quân công hạng Ba, 1 cá nhân được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Trong đợt 1 Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, đứng trong đội hình Sư đoàn 325C, trung đoàn cùng các đơn vị bạn thực hiện nhiệm vụ bao vây, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch ở căn cứ Tà Cơn, tạo điều kiện thuận lợi cho Mặt trận đường 9 và các chiến trường tiến công tiêu diệt địch. Ngày 31 tháng 3 năm 1968, trung đoàn nhận nhiệm vụ trong đội hình của Sư đoàn 325C hành quân vào chiến trường Tây Nguyên chiến đấu với mật danh “Đoàn Bạch Mã”. Bước vào đợt 2 Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Tại Mặt trận Tây Nguyên, trung đoàn được lệnh phối hợp cùng Trung đoàn 101C mở đợt hoạt động đánh địch ở khu vực đường 18 (tỉnh Kon Tum).

Đêm ngày 8 rạng ngày 9 tháng 5, Trung đoàn sử dụng Tiểu đoàn 5 được tăng cường Đại đội 16 cối 82 mm của trung đoàn tổ chức trận mật tập tiêu diệt căn cứ Ngọc Hồi (phía bắc Kon Tum). Với cách đánh mưu trí linh hoạt, sau 22 phút chiến đấu, ta tiêu diệt gọn đại đội biệt kích ngụy, bắt 19 tên, một cố vấn Mỹ chết tại trận. Tiểu đoàn 5 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì. Từ giữa tháng 5 đến tháng 6, trung đoàn liên tục đánh địch, kìm chân địch ở khu vực đường 18, loại khỏi vòng chiến đấu gần 500 tên, bắn rơi và phá hủy 20 máy bay, bắn cháy 3 xe quân sự, phá hủy 15 khẩu pháo và súng cối hạng nặng, thu nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh.

Đầu tháng 6 năm 1968, trung đoàn nhận nhiệm vụ tách khỏi đội hình Sư đoàn 325C, hành quân vào chiến trường nam Tây Nguyên chiến đấu trong đội hình Sư đoàn 1, với phiên hiệu là Trung đoàn 10. Biên chế của trung đoàn lúc này có có thay đổi, ba Tiểu đoàn bộ binh 4, 5, 6 được đổi thành 1, 2, 3. Giữa tháng 8 năm 1968, sau khi ổn định biên chế tổ chức và học tập chính trị, huấn luyện quân sự, và cũng là bước vào đợt 3 Tổng tiến công và nổi dậy, trung đoàn được giao nhiệm vụ tổ chức lực lượng tiến công chi khu quận lỵ Đức Lập và căn cứ biệt kích Đắc Sắc (nay thuộc Đăk Min, tỉnh Đăk Nông).

Sau hơn 10 ngày chiến đấu vô cùng ác liệt, trung đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiến công tiêu diệt quận lỵ Đức Lập, căn cứ Đắc Sắc và vận động đánh địch phản kích, diệt hơn 2.000 tên địch (trong đó có 15 tên cố vấn Mỹ), bắt 14 tên (trong đó có 1 đại úy ngụy), tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 20 đại đội, 18 trung đội địch (trong đó có 1 trung đội nữ thám báo). Bắn rơi 14 máy bay (6 chiếc rơi tại chỗ), thu 31 súng các loại, một máy PRC25, 5 máy thu thanh cùng một số quân trang quân dụng. Về phía trung đoàn, hy sinh 81 đồng chí, bị thương 111 đồng chí. Chiến thắng Đức Lập, Đắc Sắc khẳng định bước trưởng thành mới của cán bộ, chiến sĩ trung đoàn trong cách đánh công sự vững chắc nằm trong tuyến phòng thủ của địch. Chiến công của trung đoàn ở Đức Lập, Đắc Sắc trong đợt 3 Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 được Hồ Chủ Tịch nêu gương và tặng cờ thi đua luân lưu “Quyết chiến, Quyết thắng”; được Quốc hội và Chính phủ tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba. Tháng 10 năm 1968, Trung đoàn mang phiên hiệu Đoàn 10 (Sư đoàn bộ binh 1) hành quân vào chiến trường Tây Ninh (miền Đông Nam Bộ).

Đầu tháng 11 năm 1968, sau khi ổn định biên chế tổ chức và làm nhiệm vụ nghiên cứu chiến trường, trung đoàn được giao nhiệm vụ tiến công tiêu diệt căn cứ Sóc Con Trăng. Sóc Con Trăng nằm bên bờ suối Tống Lê Chân, một ngọn suối sát đầu nguồn sông Sài Gòn, cách mũi mỏ vẹt về phía bắc khoảng 5 ki-lô-mét. Tại đây quân Mỹ xây dựng một cụm chốt dã ngoại kiên cố nhằm ngăn chặn chủ lực ta, trực tiếp uy hiếp Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền ở phía tây. Lực lượng ở đây có hai tiểu đoàn bộ binh thuộc sư đoàn số 1 “Anh cả đỏ” Mỹ với trên 36 xe tăng, xe bọc thép, lại bố trí trong năm hàng rào thép gai bùng nhùng kết hợp với mìn clây-mo và chiếu sáng. Bên trong có 40 lô cốt vừa là chỗ ngủ vừa là ụ chiến đấu, bố trí thành hai vòng lô cốt theo kiểu răng bừa. 23 giờ ngày 13 tháng 11 năm 1968, trung đoàn nổ súng tiến công, trời gần sáng trung đoàn đươïc lệnh rút khỏi trận địa.

Trận đánh kết thúc. Ta tiêu diệt cơ bản hai tiểu đoàn dã chiến hỗn hợp Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 7 đại đội Mỹ, phá hủy 24 xe tăng và xe bọc thép, bắn rơi 18 máy bay lên thẳng. Về phía ta, 40 cán bộ, chiến sĩ hy sinh (trong đó có 2 tiểu đoàn trưởng, 6 đại đội trưởng hy sinh, 2 tiểu đoàn phó bị thương). Đây là trận đánh hao tổn cán bộ nhất trong lịch sử chiến đấu của trung đoàn. Trận đánh Sóc Con Trăng đã thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm tuyệt vời cũng như sự tôi luyện của cán bộ, chiến sĩ trong đánh công kiên, sự xung phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, dù ở chiến trường nào, khó khăn gian khổ ác liệt đến đâu cũng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Trong đó, nổi lên tấm gương chiến đấu dũng cảm của Đại đội phó Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Nguyễn Thành Ngưỡng, trước sự phản kích quyết liệt của địch ở 2 lô cốt chính diện, mũi tiến công của đơn vị không sao tiến lên được, bộ đội thương vong nhiều, đồng chí đã dùng khẩu B40 của một chiến sĩ vừa hy sinh, bắn tiêu diệt lô cốt bên phải, sau đó, đồng chí di chuyển sang bên trái để tiêu diệt lô cốt còn lại thì địch liền cho xe tăng M41 ra chắn ngay cửa chính để thay lô cốt vừa bị tiêu diệt, đồng chí Ngưỡng nhanh như cắt bò sát đến gần xe tăng địch, dùng B40 bắn cháy luôn chiếc xe tăng cản đường này. Lúc này, địch trong lô cốt còn lại bắn như mưa vào đội hình của ta, đồng chí Ngưỡng tiếp tục bò sát đến lô cốt địch, cách khoảng 20 mét thì quần dài đồng chí vướng vào dây thép gai bùng nhùng, không di chuyển được, với lòng căm thù giặc dâng trào, đồng chí liền cởi quần dài chỉ còn quần đùi, đứng thẳng dậy trước làn đạn địch bắn ra xối xả, dùng B40 ngắm bắn tiêu diệt lô cốt còn lại, và nhanh chóng hô đơn vị xung phong tiến công tiêu diệt địch.

Với chiến thắng Sóc Con Trăng, trung đoàn được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba. Riêng đồng chí Nguyễn Thành Ngưỡng với thành tích tiêu diệt 50 tên Mỹ, 2 lô cốt chính, 1 xe tăng M41… được tuyên dương danh hiệu “hành động anh hùng”, “dũng sĩ diệt Mỹ”, “dũng sĩ diệt xe cơ giới” và tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất. Chiến công nối tiếp chiến công, ngày 17 tháng 12 năm 1968, trung đoàn tổ chức trận phục kích tiêu diệt trung đoàn thiết giáp số 11 Mỹ đang đi càn quét lên phía bắc đường số 2 suối Ông Hùng. Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt vì lực lượng địch quá đông (chúng có tới 500 xe phần lớn là xe tăng và xe bọc thép), lực lượng ta lại quá thiếu về đạn B40, B41. Nhưng với tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên quyết bám trận địa, lợi dụng địa hình địa vật gói buộc bộc phá, thủ pháo, lựu đạn, triệt để tiết kiệm đạn B40, B41, tăng cường sử dụng AT, lựu đạn chờ xe thiết giáp địch tới gần tiêu diệt. Trận đánh kéo dài từ sáng sớm đến 15 giờ chiều mới kết thúc, ta diệt 48 xe địch trong đó có 9 xe tăng và thiết giáp. Sau trận diệt xe trung đoàn thiết giáp số 11 Mỹ ở suối Ông Hùng - Cầu Khởi, trung đoàn tiếp tục vận động phục kích tiêu diệt gọn tiểu đoàn 36 biệt động quân mang danh “trâu điên” tại Xóm Mới, Cầu Khởi, thu toàn bộ vũ khí. Sau đó trung đoàn chuyển về khu vực nam căn cứ Dương Minh Châu liên tục đánh địch ở khu vực Võ Tùng, suối Đá trên liên tỉnh lộ 13 (Tây Ninh).

Ngày 16 tháng 4 năm 1969, trung đoàn tổ chức trận đánh chốt cơ động của một tiểu đoàn hỗn hợp thuộc sư đoàn bộ binh số 1 “Anh cả đỏ” Mỹ ở Lộc Ninh trên tỉnh lộ 14, loại khỏi vòng chiến đấu 500 tên Mỹ, phá hủy 8 khẩu pháo và 10 xe quân sự. Mùa hè năm 1969, trung đoàn tiếp tục hoạt động ở khu vực Tây Ninh, phối hợp với các đơn vị đánh địch bảo vệ các căn cứ trên tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia.

Ngày 5 tháng 5 năm 1969, trung đoàn nổ súng tiến công căn cứ sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ ở Đồng Pan, diệt và làm bị thương khoảng 600 tên, gồm: hai đại đội bộ binh, một đại đội chỉ huy, hai đại đội pháo (10 khẩu), một đại đội cơ giới (17 xe tăng và 11 xe vận tải), một kho 22 máy bay trong đó có 2 chiếc C130, bắn cháy 10 trực thăng, một C130. Với chiến thắng Đồng Pan, trung đoàn được tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba; Đại đội cối 120 mm của trung đoàn được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất. Trong hai tháng 6, 7, trung đoàn làm nhiệm vụ tiến công, đánh phá chương trình “bình định” của địch ở khu trung tuyến (Trảng Bàng - Tây Ninh), tiến công vào các cụm quân Mỹ ở khu vực suối Bà Chiêm; ngã ba Đất Sét; Lovia… diệt trên 1.000 tên địch, làm hỏng, đánh rã chương trình “bình định”, mục tiêu chính của địch trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Đặc biệt, trong trận tập kích cụm xe tăng địch tại ngã ba Đất Sét (Bàu Sen) ngày 9 tháng 6, diệt hơn 440 tên địch, phá hủy 39 xe tăng, thiết giáp. Ngày 2 tháng 9 năm 1969, được tin: Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang từ trần, biến đau thương thành hành động, lập công đền ơn Bác, đêm mùng 4 rạng ngày 5 tháng 9, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn tổ chức trận tập kích tiêu diệt gần 200 tên Mỹ khi chúng vừa đổ quân xuống khu vực Suối Dây.

Trong khoảng thời gian chưa đầy 10 tháng (từ trung tuần tháng 11 năm 1968 đến thượng tuần tháng 9 năm 1969) tại chiến trường miền Đông Nam Bộ, trung đoàn đã diệt bảy tiểu đoàn hỗn hợp Mỹ và một tiểu đoàn ngụy trong công sự, loại khỏi vòng chiến đấu 3.446 tên địch, hầu hết là quân Mỹ, phá hủy 84 khẩu pháo, 155 xe phần lớn là xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi, bắn cháy 99 máy bay góp phần đánh bại chiến thuật “chốt cơ động” của quân Mỹ. Với thành tích chiến đấu nổi bật, trung đoàn được tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng Nhì. Các đơn vị và cá nhân của trung đoàn được tặng thưởng bảy Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba, và nhiều Huân chương Chiến công các hạng. Đặc biệt, trong Hội nghị tổng kết hoạt động Xuân - Hè - Thu năm 1969 trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, trung đoàn được Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền tuyên dương là “Trung đoàn đánh giỏi nhất của khối chủ lực miền Đông” và được tặng lá cờ truyền thống với 16 chữ vàng “Đoàn kết anh dũng; Tự lực tự cường; Đi là chiến thắng; Đánh là diệt gọn”.

Trước khi Trung đoàn 95C biên chế về Sư đoàn, trong đội hình Sư đoàn đã có Trung đoàn 3 (Đoàn Lộc Ninh), tiền thân là Trung đoàn 1 Quân khu 9. Là một trong 3 trung đoàn bộ binh được biên chế trong đội hình Sư đoàn 9 khi thành lập. Trung đoàn 3 đã cùng các đơn vị của Miền, của Sư đoàn tham gia các chiến dịch Đồng Xoài (Hè 1965), Bàu Bàng - Dầu Tiếng (11-1965); Nhà Đỏ - Bông Trang (2-1966)... đã được Trung ương Cục và Quân ủy Miền tặng danh hiệu truyền thống: “Đoàn Lộc Ninh”, vì đã lập chiến công xuất sắc trong tiến công chi khu quân sự Lộc Ninh (10-1967); Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968, trung đoàn đã tiến công vào Tổng kho Long Bình (Biên Hoà); chi khu Quân sự Thủ Đức, gây cho địch nhiều tổn thất; đợt 2 năm 1968, Trung đoàn 3 đã cùng đội hình Sư đoàn, chiến đấu quyết liệt trên hướng Bình Chánh, Phú Lâm, Quận 6.

Do yêu cầu nhiệm vu, mùa Hè năm 1969, Bộ Tư lệnh Miền quyết định điều động Trung đoàn 3 “Đoàn Lộc Ninh”, tách khỏi đội hình Sư đoàn trở về hoạt động ở đồng bằng Nam Bộ. Sau khi Trung đoàn 3 (Đoàn Lộc Ninh) tách khỏi đội hình Sư đoàn, Bộ Tư lệnh Miền tiếp tục điều động Trung đoàn bộ binh 88 thuộc Sư đoàn 308 (Sư đoàn Quân tiên phong) biên chế về Sư đoàn với phiên hiệu mới là Trung đoàn 3B do đồng chí Tám Ty làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Kính Hiền làm Trung đoàn phó. Trung đoàn 3B đã tham gia chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở chiến trường Bắc Bộ: tham gia đánh Mỹ ở chiến trường Trị Thiên, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ. Đứng trong đội hình Sư đoàn chỉ thời gian ngắn nhưng Trung đoàn 3B đã cùng các đơn vị trong Sư đoàn tham gia các trận chống càn trên địa bàn Tây Ninh trong suốt những tháng cuối năm 1969. Đầu tháng 10 năm 1969, theo quyết định điều động của Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền, Trung đoàn 3B chuyển thành trung đoàn độc lập trực thuộc Bộ Tư lệnh Miền.

Như vậy, từ ngày thành lập (ngày 2 tháng 9 năm 1965) đến tháng 10 năm 1969, trong đội hình Sư đoàn đã có ba trung đoàn 3 (Trung đoàn 3 “Đoàn Lộc Ninh”, Trung đoàn 3B và Trung đoàn 3 (95C). Đến lúc này biên chế của Sư đoàn có đủ 3 Trung đoàn bộ binh 1, 2, 3 và các thành phần binh chủng, phục vụ ổn định cho tới khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc. Cũng như các Trung đoàn 3 (Đoàn Lộc Ninh), Trung đoàn 3B trước đây, Trung đoàn 3 (95C) đã mang đến cho Sư đoàn sức mạnh mới từ hậu phương miền Bắc, từ lực lượng chủ lực cơ động của Bộ. Và cũng như Trung đoàn 1, Trung đoàn 2 hình thành từ những năm đầu của cuộc chiến tranh (1961-1962) đã xây dựng nên những truyền thống vẻ vang của mình, các Trung đoàn 3 (Đoàn Lộc Ninh), 3B và đến nay là Trung đoàn 3 (95C) đã được kế thừa truyền thống tốt đẹp từ những năm đánh Pháp, tiếp tục rèn luyện trưởng thành, xây dựng nên truyền thống mới trong những năm đánh Mỹ. Mỗi trung đoàn trong Sư đoàn đều có một nét nổi bật. Trung đoàn 1: “Trung thành dũng cảm, vượt mọi khó khăn, liên tục lập công, diệt ngụy thắng Mỹ”. Trung đoàn 2: “Kiên cường trung dũng, đánh giỏi thắng nhiều”. Trung đoàn 3: “Đoàn kết anh dũng, tự lực tự cường, đi là chiến thắng, đánh là diệt gọn“. Cả ba trung đoàn bộ binh cùng các thành phần binh chủng, phục vụ hợp thành đã nhân lên truyền thống, sức mạnh của Sư đoàn: “Đoàn kết, khiêm tốn, anh dũng, sáng tạo, đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm, sống anh dũng, chết vinh quang”.